Vương quốc Chămpa hình thành và phát triển và những cuộc chiến
tranh với người Việt
Từ khoảng TK III đến TK VIII, cương vực của Vương Quốc Chămpa
lúc mở rộng nhất nằm trải dài từ dãy núi Hoành Sơn sông Gianh ở phía Bắc cho đến
sông Dinh – Hàm Tân (Bình Thuận) và từ biển Đông đến tận miền núi phía Tây nước
Lào ngày nay. Tỉnh Quảng Nam ngày nay được coi là chiếc nôi sinh thành của
Chămpa.
Lãnh thổ Chămpa chia ra thành hai vùng: vùng phía Bắc (Quảng
Nam, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định, là nơi cư trú của bộ tộc Cau). Vùng phía
Nam (Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận; là nơi cư trú của bộ tộc Dừa).
Dãy núi Trường Sơn chia cắt Chămpa thành nhiều vùng thường được gọi là các
châu, gồm có châu Armavati (ở phía Bắc, từ Quảng Bình đến Quảng Nam với kinh đô
Indrapura – Đồng Dương về sau Đồng Dương còn là một trung tâm Phật giáo).
Trong các thời kỳ lịch sử các châu này tranh giành ảnh hưởng và
địa vị lẫn nhau. Tiểu quốc nào mạnh sẽ ảnh hưởng bao trùm lên các tiểu quốc và
tiểu vương ở đó sẽ trở thành kinh đô của cả vương quốc rộng lớn. Do đó, trong lịch
sử Chămpa đã trải qua nhiều kinh đô khác nhau.
GIAI ĐOẠN SINHAPURA
Hay còn gọi là Lâm Ấp từ đầu đến khoảng năm 750. Vào cuối thế kỷ
II sau Công nguyên nhà nước Lâm Ấp đã được ra đời, do vua Khu Liên lập ra năm
192, là kết quả đấu tranh chống lại ách đô hộ của nhà Hán của nhân dân vùng đất
cực nam quận Nhật Nam. Đây được coi là thời kỳ đầu của vương quốc Chămpa.
Căn cứ vào theo các nguồn sử liệu nêu trên xác định sự ra đời và
tồn tại của Chămpa cổ. Trung tâm Lâm Ấp là huyện Thọ Linh cũ (thuộc Thuận Hóa,
Thừa Thiên, Huế) và vùng Kim Sơn, Bồng Miêu (Quảng Nam). Tuy gặp phải nhiều khó
khăn nhưng Lâm Ấp vẫn giữ được chủ quyền và bắt đầu công cuộc phát triển đất nước.
Năm 653, Chư Cát Địa trở thành vua và cho xây nhiều đền tháp ở Mỹ Sơn. Vua
Vikrantarman nối ngôi và truyền cho Lư Đà Na (Rudravarman). Lâm Ấp tồn tại đến
khoảng năm 758.
GIAI ĐOẠN VIRAPURA
(Hoàn vương _ Panduranga) khoảng 750 – 850. Khoảng năm 749 lãnh
thổ Lâm Ấp được mở rộng đến Panduranga. Đây là thời kỳ vùng miền Nam Kauthara
(Nha Trang) và Panduranga (Phan Rang) nắm bá quyền đối với các tiểu quốc khác của
Chămpa. Kinh đô Chămpa chuyển về Virapura nên giai đoạn này gọi là giai đoạn
Virapura hay còn gọi là Hoàn vương. Vương triều Virapura trải qua 5 triều đại gồm:
+ Prithi Indravarman
+Satyavarman
+Indravaman I (787 – 801)
+Harivarman (801 – 817)
+Vikrantavarman III (829- 854)
Về phía Bắc, Hoàn Vương mở rộng đến Quảng Nam – Đà Nẵng với cảng
thị Đại Chiêm Khẩu (Hội An). Vua đầu tiên của Hoàn Vương là Prathivindravarman,
vua thứ hai là Satyavarman – người kháng cự lại cuộc tấn công của quân Java vào
khu đền Po Nagar năm 774. Dưới đời vua Indravarman I, Ấn Độ giáo và Phật giáo đều
phát triển. Quân đội Java lại đi cướp kinh đô Virapura. Em rể Indravarman I là
Harivarrman nối ngôi Indravarman I, lúc này Champa phát triển mạnh lên.
Trong các năm 808 và 819 Chămpa tiến đánh An Nam. Từ năm 813 đến
817, hoàng tử Chămpa là Vikrantavaman III đã hai lần tiến quân đánh Chân Lạp.
Trong những năm sau đó, ông đã lên nối ngôi vua nhưng không có con trai nên triều
đình chọn Indravarman, xuất thân từ phía Bắc Champa lên nối ngôi, lịch sử
Champa chuyển sang một thời kỳ mới – thời kỳ của vương triều Indrapura phía Bắc
và đến đây thời kỳ Hoàn Vương chấm dứt sau 100 năm cai trị.
Trong suốt giai đoạn lịch sử 100 năm của vương triều Hoàn vương
– Virapura là một thời kỳ lịch sử khá đặc biệt. Suốt thời gian dài 100 năm các
vị vua có nguồn gốc phía Nam đã lên trị vì Champa.
Do có sự chuyển biến trung tâm quyền lực từ Bắc vào Nam nên hầu
như những bia ký hay những công trình đượ xây dựng thời gian này tập trung chủ
yếu ở Kauthara và Panduranga. Theo các tài liệu bia ký cũng cho biết thủ độ
Virapura cũng được xây tiếp trên cơ sở lâu đài cũ của dòng vua chúa phía nam.
Sau Hoàn vương một thời kỳ mới đã được mở ra – thời kỳ Vương triều Indrapura (Đồng
Dương).
GIAI ĐOẠN INDRAPURA (KHOẢNG 850 – 982)
Đây là thời kỳ mở ra giai đoạn mới của Chămpa, lập kinh đô mới
mang tên Indra – Indrapura, ở địa điểm làng Đồng Dương, huyện Thăng Bình, tỉnh
Quảng Nam; kinh đô mới này lui về phía Nam, cách địa điểm cũ vài chục kilomet,
là nơi đây kín đáo và thuận tiện đường giao thông Bắc – Nam và hướng ra biển,
tôn thờ thần Siva dưới tên gọi mới, Sambhubhadresvara – Campapuraparamesvara.
Đến lúc này ta thấy có sự thay đổi về dòng vua cũng như địa điểm
kinh đô từ Sinhapura đến Virapura rồi lại đến Indrapura. Trong Thư tịch Trung
Quốc mà cụ thể là Tân Đường thư gọi ba giai đoạn này là Lâm Ấp, Hoàn Vương và
Chiêm Thành.
Đây là một giai đoạn với nhiều nét đặc sắc, là một bước ngoặt
trong lịch sử và văn hóa Chăm. Giai đoạn này gọi là Indrapura – Đồng Dương, tức
địa danh ngày nay. Vương triều Đồng Dương có đến 20 minh văn và phế tích kiến
trúc, trải trên một địa bàn rộng từ Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng
Ngãi và đến cả cao nguyên, Khánh Hòa, Ninh Thuận. Bản thân Đồng Dương –
Indrapura vừa là hoàng cung, vừa là đền miếu thờ thần Phật, nó cũng được coi là
kiến trúc lớn của Chămpa.
Kinh đô được dời đến Indrapura và lúc này Phật giáo trở thành quốc
giáo. Vua Indravarman đặt tên nước là Campura (Chămpa). Các vua nối ngôi là
Jaya Simhavarman, Jaya Saktivarman, Bhadravarman II và Indravarman II.
Năm 945, vua Chân Lạp Rajendravarman II đánh châu Kauthara (Nha
Trang) và tiến công thủ phủ của châu này. Trong đời vua tiếp theo là
Indravarman, Chân Lạp tiến đánh vùng Pô Nagar. Vua Jaya Indravarman lên ngôi
năm 960. Đến năm 972, Champa có vua mới là Paramesvaravarman I.
Năm 979 vua này đã giúp sứ quân Ngô Nhật Khánh tiến đánh Đại Việt
nhưng thất bại. Năm 982, vua Lê Đại Hành đánh Chăm-pa và tiến vào kinh đô
Chăm-pa, vương triều Indrapura chấm dứt.
Nhìn chung, trong toàn bộ sơ kì Chămpa tuy biến động vương triều
nhiều lần song đều là thời gian hình thành, củng cố, phát triển vương triều, gắn
liền với sự mở rộng quan hệ trao đổi buôn bán và đứng vững trước các tấn công từ
Java và Campuchia.
Vào thế kỷ II trước Công nguyên, nhà Hán xâm lược và thống trị
Âu Lạc, đồng thời chiếm luôn phần đất từ Đèo Ngang đến Quảng Bình và Nghĩa-Bình
lập thành quận Nhật Nam. Người Chăm liên tục đứng dậy cùng nhân dân Âu Lạc chống
lại ách đô hộ của nhà Hán. Đến thế kỷ II sau Công nguyên, sau cuộc khởi nghĩa
thắng lợi của Khu Liên (năm 192), người Chăm ở huyện Tượng Lâm, huyện xa nhất của
quận Nhật Nam, thuộc phần đất Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định ngày nay lập
ra tiểu quốc độc lập. Vào thế kỷ IV, dưới thời Phạm Văn, toàn bộ đất Quảng Nam
lúc bấy giờ thuộc lãnh thổ của quốc gia Chămpa.
Thời đó cửa sông Thu Bồn còn cách xa bờ biển Thu Bồn ngày nay, đồng
bằng Thu Bồn chưa được mở rộng như bây giờ. Vùng hạ lưu dọc biển chủ yếu là đầm
phá và nồng cát, đất nông nghiệp không nhiều, phía tây có rừng rậm bao phủ. Người
Chăm với một dân số không nhiều lại sống rải rác, tiến hành khai phá đất đai để
làm ruộng, đào ao hồ để trữ nước tưới, xây dựng các hệ thống mương máng dẫn nước
để chống hạn. Họ sản xuất thóc lúa và một số loại nông sản khác như đỗ, lạc,
mía, cau, hồ tiêu và các loại cây ăn quả. Trên các bãi sông Thu Bồn người ta trồng
dâu nuôi tằm lấy tơ dệt vải, lụa.
Người đàn bà Chăm bấy giờ đã dệt được những chiếc váy kama uốn
quang mình dài xuống đến cổ chân, cùng nhiều thứ lụa là, gấm vóc. Rừng cũng được
người Chăm bắt đầu khai thác, các thứ gỗ mun, trầm, kỳ nam, đậu khấu, sừng tê
được khai thác để xuất khẩu. Nhiều thứ đá quý được người Chăm mài tiện làm đồ mỹ
nghệ, người Chăm còn đãi vàng dọc các suối ngòi vùng Bồng Miêu, họ đã làm các
loại thuyền buồm dùng để vượt biển đi buôn. ở chốn cung đình tập trung nhiều thợ
giỏi các nghề xây dựng, điêu khắc, đúc tượng, làm đồ trang sức bằng vàng bạc,
ngọc ngà, dệt gấm thiêu hoa, chuyển sản xuất phục vụ vua quan, quý tộc.
Các triều vua Chăm của cải đầy ắp là do bót lột của nhân dân, lại
còn do chinh chiến với các lân bang để bắt tù binh đem ra bán ở nước ngoài làm
nô lệ. Tất cả của cải đem vào việc xa xỉ và xây dựng đền tháp, cung điện.
Mỗi vị vua Chăm sau khi lên ngôi đều đến đây làm lễ cúng thần
linh hoặc xây dựng thêm đền đài hiến dâng lên thần Srisanabhadresvara- đấng tối
cao bảo vệ vương quyền. Chiến tranh đã làm cạn kiệt nguồn tài lực của nhân dân
và bản thân vương quốc cũng ngày một suy yếu. Nguồn nhân lực hao mòn, không đủ
sức duy trì việc khai thác đất đai, mà bản thân việc khai thác trước đây cũng
đã không thể thực hiện một cách triệt để. Cuộc xâm lược của quân Nguyên- Mông đối
với Chăm pa vào thế kỷ XIII tuy bị thất bại hoàn toàn, nhưng đã tàn phá nặng nề
đất nước này và tiêu diệt khá nhiều người Chăm.
Người Chăm sùng bái các thần Ấn giáo như là bộ ba Bơrama, Visnu,
Siva, và tiếp thu cả đạo Phật thuộc phái Đại thừa. Về chữ viết, chữ Phạn
(sanskrit)_một văn tự cổ của Ấn Độ cũng được tiếp thu cải biến thành chữ Chăm
và được sử dụng rất sớm ở Chăm-pa (đặc biệt là giai đoạn từ thế kỷ II- VIII).
Triều đình Chăm-pa đã lấy các từ Ấn Độ thậm chí các địa danh Ấn Độ để đặt tên
nước, tên châu, tỉnh và kinh đô của mình như Champa, Amaravati (vùng bắc
Champa), Sinhapura, Inđrapura, Vigiaya… Các công thức văn bia chữ Phạn, các điển
tích tôn giáo và văn học Ấn Độ cũng được các vua chúa, các học giả người Chăm
lĩnh hội và sử dụng rất rộng rãi.
Người Chăm còn tiếp thu và sử dụng lịch Ấn Độ trong sản xuất và
đời sống. Đó là hệ thống lịch saka, áp dụng ở miền Bắc Ấn Độ từ ngày 3 tháng 3
năm 78 và được phổ biến sang nhiều nước Đông Nam Á, trong đó có Chăm-pa. Người
ta cũng tính thời gian theo chu kỳ 12 năm, mỗi năm 12 tháng và cũng lấy các con
thú làm biểu tượng cho mỗi chu kỳ (giống như lịch Can Chi của Trung Quốc).
Đây cũng là hệ thống âm lịch, nên người ta dựa vào tuần trăng để
chia một tháng ra 2 tuần và mỗi tuần có 7 ngày. Các công trình xây dựng đền
tháp, nghệ thuật kiến trúc, môtíp kiến trúc của Chăm-pa cũng đều học tập của Ấn
Độ. Tuy vậy, không phải văn hóa Ấn Độ đã mang vào Chăm-pa một cách nguyên vẹn,
rập khuôn, mà trong thực tế tất cả những hình thức văn hóa đó đều đã được gia
giảm và thể hiện theo kiểu Chăm-pa. Ta có thể nhận thấy tháp đền Chăm-pa có những
dáng vẻ riêng.
Nghệ thuật kiến trúc và tạc tượng thế kỷ VII – X rất sinh động
và độc đáo. Chữ viết mặc dù vay mượn từ chữ Phạn nhưng người Chăm lại sáng tạo
thành chữ Chăm cổ. Trong vương quốc Chăm-pa, âm nhạc, ca múa đặc biệt phát triển.
Người Chăm đã giữ rất lâu bền một số phong tục cổ truyền như ăn trầu, nhuộm
răng đen, coi trọng phụ nữ, tục thờ cúng tổ tiên, tục hỏa thiêu người chết và
chôn tro xương trong các mộ vò.
Xã hội người Chăm ở vương quốc Chăm-pa cổ là xã hội của cư dân sản
xuất nông nghiệp và quan hệ chủ yếu trong xã hội cũng là những quan hệ về ruộng
đất, về chế độ sớ hữu và các hình thức sử dụng ruộng đất đó. Vua là nhân vật
chuyên chế, có uy quyền tuyệt đối, nhưng chưa thấy sự xuất hiện các lãnh địa
riêng của nhà vua, cũng hoàn toàn chưa thấy có dấu hiệu nào chứng tỏ các quý tộc
và quan lại có lãnh địa riêng hay có ruộng đất riêng. Một khi không thấy có sở
hữu ruộng đất lớn của vua và quý tộc-quan lại thì ta có thể nghĩ rằng hầu hết
ruộng đất đều do người nông dân giữ và canh tác.
Ruộng đất ở đây vẫn được coi là ruộng đất chung của công xã. Người
nông dân vẫn sống theo từng làng (tức công xã) và có thể làng đã giao ruộng đất
cho từng gia đình nông dân công xã canh tác. Công xã là nơi duy trì các mối
quan hệ cộng đồng và thân tộc trong đời sống kinh tế và tinh thần. Quá trình
phân hóa và phát triển của xã hội diễn ra tương đối chậm. Xã hội Chămpa cổ đã sớm
hình thành tầng lớp nô lệ. Nô lệ phục vụ trong các gia đình quý tộc và đền miếu,
trong những công việc và phạm vi mà người ta không thể cưỡng bức lao động của
nông dân công xã. Nô lệ đã trở thành một thành phần không thể thiếu của cơ chế
xã hội Chămpa cổ. Như vậy, xã hội Chămpa mang những đặc trưng cơ bản của khu vực
Đông Nam Á.
Vương quốc Chămpa và những cuộc chiến tranh với người Việt
Lịch sử dựng nước và giữ nước của vương quốc Chămpa gắn liền với
những cuộc chiến tranh liên miên với các quốc gia láng giềng để giành quyền lợi.
Trong đó, có nhiều lần họ đã giao tranh với người Việt và chiến thắng…
Trải qua các triều đại từ Lâm Ấp – Hoàn Vương (Simhapura) –
Indrapura cho đến Chiêm Thành và những triều đại về sau, không thời nào mà người
Chămpa lại không có những cuộc chiến tranh, phía Bắc họ chống Đại Việt, phía
Nam gây hấn Chân Lạp, phía tây lại nhiều lần đánh nhau với vương quốc ĂngKo.
Tuy mạnh yếu mỗi thời mỗi khác, chiến tranh cũng có lúc thắng lợi
vinh quang mà có khi thất bại nhục nhã nhưng có thể nói chính những cuộc chiến
tranh không ngừng nghỉ của vương quốc này đã làm suy kiệt sức người sức của của
đất nước, bên cạnh đó, cuộc chiến tranh qua nhiều thời kỳ với người Việt là một
trong những nguyên nhân quan trọng dẫn tới sự tiêu vong của một dân tộc từng đạt
đến đỉnh cao rực rỡ của một nền văn minh tiêu biểu trong khu vực Đông Nam Á.
Các sử liệu của người Việt hiện nay đã có chép rõ về sự bang
giao cũng như quá trình tranh đấu giữa hai dân tộc Việt – Chăm trong suốt chiều
dài lịch sử. Theo đó, cuộc chiến đầu tiên giữa hai quốc gia nói trên diễn ra dưới
thời vua Lê Đại Hành và vua Indravarman IV.
Năm Nhâm Ngọ 982, sau khi lên ngôi được một thời gian, nhận thấy
vùng đất phía Nam đang không được yên ổn do bị người Chăm liên tục quấy phá,
vua Lê Đại Hành đã đích thân đem quân đi phạt tội vua Chăm, trong lần đánh nhau
này, quân đội Đại Việt đã không gặp bất kỳ trở ngại lớn nào và nhanh chóng đánh
thẳng vào kinh đô Indrapura của Chiêm Thành lúc bấy giờ (Chiêm Thành là từ gọi
theo người Trung Quốc).
Vua Chiêm là Indravarman IV phải chủ động xin nghị hòa, chịu
xưng thần và chấp nhận triều cống hằng năm cho triều đình nhà Lê. Như vậy trong
cuộc chiến tranh biên giới lần đầu tiên này, người Việt đã giành được thắng lợi
to lớn, tuy không chiếm giữ đất đai của người Chăm nhưng cũng biến họ thành một
nước chư hầu của ta.
Năm 986, vua Chiêm là Indravarman IV mất, một vị tướng của ông
là Cu Thi Lị Ha Thân Bài Ma La lên nắm quyền lấy hiệu là Ku Cri Harivarman II
đóng đô ở Vijaya (người Việt gọi là Phật Thệ tức thành Chà Bàn Bình Định ngày
nay). Lúc này nội bộ triều đình Chămpa không được đoàn kết, thế nước đang suy yếu.
Vua Lê Đại Hành biết rõ điều này nên lập tức đưa quân đánh chiếm châu Địa Lí
(thuộc Quảng Bình ngày nay), biến Địa Lí thành một vùng đất của người Việt. Như
vậy, châu Địa Lí là vùng đất đầu tiên mà người Việt chiếm giữ trong cuộc nam
chinh mở rộng lãnh thổ của mình.
Quan hệ giữa Chămpa với người Việt dưới thời tiền Lê ngoài cuộc
chiến tranh đầu tiên của Lê Hoàn với Indravarman IV thì nhìn chung đều diễn ra
tốt đẹp, Chiêm Thành lúc này là một nước nhỏ, phải hòa hoãn xưng thần và thực
hiện triều cống hàng năm với Trung Hoa và Đại Việt.
Năm 992, vua Lê Đại Hành đã sai Phụ Quốc Ngô Tử An đem 3 vạn người
mở một con đường bộ đi vào đất Chiêm Thành, con đường này kéo dài từ cửa biển
Nam Giới (Hà Tĩnh ngày nay) đến châu Địa Lí mà vua mới chiếm được. Đây là con
đường bộ đầu tiên nối liên hai quốc gia Việt – Chăm, mở ra một thời kỳ mới
trong quan hệ giữa hai dân tộc láng giềng này.
Từ triều đại nhà Lý của người Việt trở đi, mối quan hệ của hài
quốc gia Việt – Chăm bắt đầu có sự rạng nứt do tham vọng của cả hai bên. Về
phía Đại Việt lúc này đã là một quốc gia ổn định và cường thịnh, các triều đại
nối tiếp nhau luôn có nhu cầu mở rộng lãnh thổ để đưa nước mình lên một vị thế
mới.
Nước Đại Việt phía Bắc giáp Trung Hoa hùng mạnh, phá Đông là biển
cả và phía Tây là rừng núi, chính vì thế chỉ có vùng đất phía Nam là nước Chiêm
Thành mới đáp ứng được tham vọng bành trướng lãnh thổ của các triều đại phong
kiến Việt Nam.
Về phía người Chiêm, lịch sử đã cho thấy họ là một dân tộc có
truyền thống hiếu chiến và luôn muốn gây hấn xâm lăng ra bên ngoài để bù đắp
cho sự nghèo nàn trong nước.
Không những thế, đối với người Việt, người Chăm còn giữ cái hận
giết vua, tàn phá kinh đô từ trước nên đã tìm cách thần phục và dựa dẫm vào uy
thế của đế quốc Trung Hoa, điều này gây nên sự tức giận với các vua Đại Việt.
Từ chính những nguyên nhân này đã gây nên những cuộc chiến tranh
liên miên của hai quốc gia này trong suốt một thời gian dài qua nhiều thế kỷ,
chiến trường trải dài từ dải đất Hoành Sơn đến vùng biên giới Chân Lạp.
Từ khi vua Lý Thái Tổ lên ngôi, nước Chiêm chỉ sai sứ triều cống
một lần vào năm Thuận Thiên thứ 2 (1011) rồi sau đó không triều cống nữa. Nhà
vua ắt hẳn rất giận dữ về điều đó nên đã sai quân tấn công vào lãnh thổ Chiêm
Thành.
“Đến năm Thuận Thiên thứ II (1020) vua sai Khai Thiên Vương Thái
Tử Phật Mã và Đào Thạc Phu đem quân đánh Chiêm Thành ở trại Bố Chánh; đến núi
Long Tị, chém được tướng Chiêm là Bố Linh. Bấy giờ ở Chiêm Thành, cuối đời vua
Virantavarman IV, nội tình hỗn loạn, nhiều cuộc tranh giành, xâu xé trong hoàng
gia xảy ra, nên có nhiều nhân vật chạy sang triều đình nhà Lý lánh nạn…Năm sau (1040), người coi trạm Bố Chánh của Chiêm
là Bố Linh, Bố Kha, Lan Đà Tinh đem bộ hạ hơn 100 người xin quy phụ.”
Năm Minh Đạo thứ 2 (1043), người Chiêm lại làm loạn, liên tục
cho quân quấy nhiễu vùng biên giới nước ta, vua Lý Thái Tông phải sai Đào Tử
Trung đi đánh dẹp. Cũng nhân lí do đó và được sự đồng tình của quần thần trong
triều, đến năm Minh Đạo thứ 3 (1044) vua Thái Tông cất quân đánh Chiêm Thành, lần
thân chinh của vua lần này trước là để tỏ uy thế của mình và sau là để thực hiện
cái mưu đồ bành trướng lãnh thổ mà các triều đại trước đã đặt nền tảng.
Xét theo quy luật của lịch sử các quốc gia phong kiến thì sự
tranh giành lãnh thổ và quyền lực hay thôn tính lẫn nhau của các triều đại âu
cũng là chuyện tất yếu phải có.
Xuất quân lần này, vua tôi Đại Việt đánh đâu thắng đó, chẳng mấy
chốc đã đánh thẳng đến kinh đô Phật Thệ (Vijaya) của Chiêm Thành, bắt cả triều
đình vua Chiêm, thu được rất nhiều vàng bạc châu báu và tù binh.
Sau khi về kinh sư ăn mừng chiến thắng, “vua xuống chiếu cho các
chiến tù Chiêm, theo từng bộ thuộc, đến ở trấn Vĩnh Khương thẳng đến Đăng Châu
lập ra làng, ấp, theo danh hiệu vua cũ Chiêm Thành mà đặt tên.”
Cuối năm 1061, Rudravarman III lên ngôi vua ở Chiêm Thành (người
Việt quen gọi là Chế Củ), ngoài mặt thì giả vờ thần phục, sai người sang dâng
lê vật và triều cống hàng năm cho triều đình vua Lý Thành Tông nhưng trong lòng
lại hết sức căm giận và quyết chí báo thù Đại Việt.
Năm 1068, vua Chế Củ nước Chiêm lại cho quân quấy phá vùng biên
giới nước ta, vua Thánh Tông nhân cớ đó đã quyết định xuất binh phạt tội người
Chiêm. “Năm Kỉ Dậu, Thiên Hướng Bửu Tượng năm thứ 2 (1069), tháng 2, ngày Mậu
Tuất vua xuống chiếu thân chinh, chọn Lý Thường Kiệt làm nguyên soái, đi tiên
phong, đem 5 vạn quân. Ngày Canh Dần, xuống chiếu xuất quân, đi đường thủy. Đến
cửa Nhật Nam thuyền quân bị thủy quân Chiêm chận đánh. Vua sai tướng Đại liêu
ban Hoàng kiện đối địch, quân Chiêm thua. Đại quân tiếp tục tiến lên, ghé nghĩ ở
cửa Tư Dung, rồi theo bờ biển vào Nam, ngày Bính Tý đầu tháng 3 đến cửa Thị Nại.”
Quân đội của vua Thánh Tông nhanh chóng đánh vào kinh đô Trà
Bàn, vua Chế Củ bỏ thành chạy thoát thân nhưng cũng nhanh chóng bị quân Đại Việt
bắt được, hơn 5 vạn quân Chiêm bị bắt sống.
Vua chiếm được kinh đô nước Chiêm Thành nhưng có lẽ xét thấy
chưa đủ lực để trấn giữ nên ra lệnh rút quân về Thăng Long. Vua Chế Củ phải xin
dâng ba châu Bố Chánh, Địa Lý, Ma Linh (vùng đất thuộc tỉnh Quảng Bình và Quảng
Trị ngày nay) để được tha về, vua Thái Tông đồng ý và sai quân tiếp quản ba
vùng đất này.
Sách Đại Việt sử kí toàn thư cũng có chép sơ lược về lần thân
chinh này của vua Thánh Tông tuy hơi có khác với Việt Sử lược : “Tháng 2, vua
thân chinh Chiêm Thành, bắt được vua nước ấy là Chế Củ và dân chúng 5 vạn người.
Trận này vua đánh Chiêm mãi không thắng, đem quân trở về, đến châu Cự Liên nghe
tin Nguyên Phi coi việc nội trị, khiến lòng dân hòa hiệp, trong nước yên tĩnh,
tôn sùng Phật giáo, nhân dân gọi là nang quan âm, vua nói : “Nguyên phi là đàn
bà còn làm được như thế, ta là đàn ông há không được việc gì hay sao?” rồi vua
quay trở lại đánh, bèn thắng”.
Từ giai đoạn này trở đi cho đến đầu thời Trần, quan hệ giữa Đại
Việt và Chiêm Thành diễn ra tốt đẹp, và vương quốc Chiêm Thành lúc này là một
thuộc quốc của Đại Việt. Từ khi vua Trần Thái Tông lên ngôi năm Ất Dậu (1025),
vương quốc Chiêm Thành đã nhiều lần sai sứ sang triều công và dâng tặng lễ vật
cho Đại Việt , tỏ ý thần phục; đồng thời lại có lúc quấy nhiễu vùng ven biển và
các vùng đất đã cắt nhượng cho Đại Việt vào các năm 1257 – 1266.
Lịch sử dựng nước và giữ nước của vương quốc Chămpa gắn liền với
những cuộc chiến tranh liên miên với các quốc gia láng giềng để giành quyền lợi.
Trải qua các triều đại từ Lâm Ấp – Hoàn Vương (Simhapura) – Indrapura cho đến
Chiêm Thành và những triều đại về sau, không thời nào mà người Chămpa lại không
có những cuộc chiến tranh, phía Bắc họ chống Đại Việt, phía Nam gây hấn Chân Lạp,
phía tây lại nhiều lần đánh nhau với vương quốc ĂngKor.
Từ khi vua Trần Anh Tông lên ngôi (1293), quan hệ hai nước Việt
– Chăm bước vào thời kỳ hòa bình và mối
bang giao có phần tốt đẹp hơn trước. Trong giai đoạn này, bên phía Chiêm Thành
đang là thời gian trị vì của vua Chế Mân (Jaya Simhavarman), nhà vua đã nhiều lần
sai sứ sang giao hảo và tặng lễ vật mừng vua Anh Tông của nước Việt, đây cũng
là thời điểm diễn ra những chuyến đi của Thượng hoàng Nhân Tông sang thăm vương
quốc láng giềng trên danh nghĩa du lịch (1301)
nhưng thực chất là để tiếp xúc tạo mối quan hệ bền chặt với quốc gia
này.
Năm 1306, một cuộc hôn nhân chính trị rầm rộ trong lịch sử dân tộc
đã diễn ra khi thượng hoàng Nhân Tông hứa gả con gái của mình là công chúa HuyềnTrân
cho vua Chiêm Chế Mân. Đổi lại, vua Chiêm đã dùng hai châu Ô và châu Lý để làm
sính lễ, cuộc hôn nhân này có thể xem là môn đăng hộ đối giữa hai quốc gia và
cũng là chiếc cầu nối cho nền hòa bình của hai dân tộc, xóa bỏ những hiềm
khích, hận thù trước đó để hai dân tộc có thể bắt tay nhau tạo ra mối bang giao
tốt đẹp, mang lại lợi ích cho cả đôi bên.
Ngay khi công chúa Huyền Trân vừa về làm hoàng hậu nước Chiêm
thì dân Việt ở châu Hoan (Thanh Hóa) và châu Ái ( Nghệ An) cũng nhanh chóng kéo
nhau vào tiếp quản hai châu Ô, Lý của Chiêm Thành. Năm 1307, vua Anh Tông cho đổi
hai châu Ô, Lý thành Thuận Châu và Hóa Châu, chọn người trong dân chúng để làm
quan, vua còn sai quan Hành khiển Đoàn Nhữ Hài vào kinh lý và cai trị vùng ấy,
thực hiện các chính sách an dân. Nhân dân ta thường gọi chung hai vùng ấy là
châu Thuận Hóa (địa bàn chủa 2 châu Thuận – Hóa kéo dài từ huyện Hải Lăng của
Quảng Trị đến huyện Duy Xuyên của Quảng Nam ngày nay).
Như vậy, sau cuộc hôn nhân chính trị này, người Chiêm đã mất đi một vùng đất rộng lớn có tầm chiến
lược về quân sự, thương mại và mất cả vùng đất được xem là thánh địa của dân tộc
Chăm là Amaravâti, Indrapura. Lãnh thổ của nước Việt cũng được mở rộng đến phần
lớn tỉnh Quảng Nam trong thời gian này.
Việc mất hai vùng đất quan trọng của mình vào tay Đại Việt chỉ bằng
một cuộc hôn nhân của nhà vua đã khiến cho toàn thể nhân dân Chămpa không được
vui và vẫn ngấm ngầm chống đối sự sát nhập đất đai này. Năm 1307, vua Chế Mân mất,
tạo ra một giai đoạn không hay trong mối quan hệ Việt – Chăm. Theo các sách Đại
Việt sử kí toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Việt Nam Sử Lược
thì theo tục lệ của người Chăm khi vua chết thì hoàng hậu và các phi tử đều phải
thác theo để tròn đạo, vua Anh Tông nghe tin ấy thì lo sợ bèn sai tướng của
mình vào đất Chiêm tìm kế giúp công chúa Huyền Trân thoát nạn. “Huyền Trân công
chúa lấy Chế Mân được một năm thì mất, mà theo tục Chiêm Thành, hễ khi vua chết,
thì các hậu phải hỏa táng theo. Anh Tông được tin ấy, sai Trần Khắc Chung giả
mượn tiếng vào thăm để tìm kế đưa công chúa về”.
Cuộc đào tẩu ngọn mục của Trần Khắc Chung và công chúa Huyền
Trân đã làm cho lòng dân Chiêm Thành hết sức bất bình, họ cảm thấy đó là điều sỉ
nhục với dân tộc mình nên caem tức muốn đòi lại hai châu Ô, Lý mà vua Chế Mân
đã dâng cho Đại Việt làm sính lễ. Ngay sau khi vua Chế Mân chết, con trai là Chế
Chi lên thay (tức Cri Jaya Simhavarman IV), ngoài mặt thì vị vua mới của Chiêm
vẫn tỏ vẻ thần phục nhà Trần nhưng kì thực trong lòng lại đầy phản trắc.
Biết được điều đó, năm Hưng Long thứ 19 (1311), vua Anh Tông sai
các tướng đi đánh Chiêm Thành, nhà vua đích thân ngự giá cùng Huệ Võ Vương Quốc
Chấn, Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư, Minh Hiến vương Uất và tướng quân Phạm Ngũ
Lão ra quân.
Quân tướng nhà Trần với oai danh
ba lần đạp tan sự xâm lược của Mông-Nguyên đã làm cho nước Chiêm khiếp sợ,
quân Đại Việt đi đến đâu thì người Chiêm đầu hàng đến đấy, tướng quân Đoàn Nhữ
Hài lập công lớn trong lần xuất hinh này, không đánh mà khuất phục được Chiêm
Thành. Vua Chiêm Chê Chi bị bắt giải về Thăng Long, nhà Trần lập em của Chê Chi
là Chế Năng (Chế Đa A Bà Niê) lên làm vua có quyền coi việc nước.
Để vỗ về nhân dân Chiêm Thành và tạo dựng mối quan hệ bang giao
hòa hão với họ, vua Anh Tông đã phong Chế Chi tước Hiệu Trung vương (sau là Hiệu
Thuận vương) , vương được bố trí ở tại hành cung của vua Trần ở Gia Lâm đến năm
1313 thì mất. “Năm Hưng Long thứ 21, Xiêm La lấn cướp Chiêm Thành, vua Anh Tông
sai An phủ sứ Đỗ Thiên Hư làm kinh lược sứ đi kinh lược Nghệ An và Lâm Bình để
sang cứu Chiêm Thành.”
Sau khi quân Đại Việt rút đi, vua Chiêm Chế Năng ra sức ổn định
tình hình trong nước, nhân việc lòng dân đang hết sức oán hận người Việt, Chế
Năng đã cho quân quấy nhiễu cướp phá vùng biên giới. Năm 1314, thừa dịp vua
Minh Tông nhà Trần mới lên ngôi còn phải đang lo nhiều việc quốc sự, Chế Năng
đã xua quân tái chiếm hai châu Ô, Lý.
Không bao lâu sau, vào năm Đại Khánh thứ 5 (1318), Huệ Võ vương
Trần Quốc Chân nhận lệnh vua Minh Tông cất quân sang phạt tội người Chiêm lộng
hành, đánh nhau vài trận, quân Chiêm thua to, ta đánh đến kinh đô của họ, buộc
vua Chế Năng phải bỏ chạy sang nước Qua Oa ( tức Java) lánh nạn. Như vậy với sự
thất bại này của Chê Năng, vương triều thứ XI nước Chiêm đã chấm dứt. Tháng 6
năm 1318, quân Đại Việt lại tiếp tục đánh vào vùng Cổ Lũy động (phía Bắc Quãng
Ngãi ngày nay) nhưng không được phải quay về.
Năm 1360, Chê Bồng Nga lên ngôi vua ở đất Chiêm Thành, bắt đầu
xây dựng lại đất nước, mở ra một thời kỳ phú cường của vương quốc Chămpa. Năm
1361,vua Chiêm Chế Bồng Nga đem một đạo quân lớn theo đường biển đánh vào cửa
biển Đà Lý thuộc phủ Lâm Bình nhưng nhanh chóng thất bại. Năm sau quân Chiêm
Thành lại đến cướp phá vùng này, vua Trần Dụ Tông phải cho phòng giữ nghiêm ngặt
để giữ vững vùng Hóa châu. Năm Đại Trị thứ 9 (1366) Chiêm Thành lại vào đánh cướp
phủ Lâm Bình, bị Tri phủ lầ Phạm A Song đánh đuổi phải rút về.
Năm Đại Trị thứ 10 (1367), vua Trần sai Minh Tự Trần Thế Hưng
làm Thống quân hành khiển đồng tri Thượng thư tả ty sự, Đỗ Tử Bình làm phó tướng
đi đánh Chiêm Thành. Đời vua Duệ Tông lại sai dân mở đường từ Cửu Chân đên Hà
Hoa để chuẩn bị đánh Chiêm Thành. Những lần xuất binh này không mang lại kết quả
gì lớn lao mà còn mang lại thất bại nặng nề cho quân Đại Việt. Năm 1377, vua Duệ
Tông tử trận ở thành Đồ Bàn, quân ta thua to. Năm 1378, quân Chiêm đánh thẳng
vào Thăng Long, vua tôi nhà Trần phải bỏ chạy, quân Chiêm cướp phá nhiều ngày rồi
rút về.
Đời vua Thuận Tông, vào năm Quang Thái thứ 2 (1389), quân Chiêm
Thành lại tiến đánh Thanh Hóa, vua Trần sai Lê Quý Ly ngăn địch, hai bên đánh
nhau một trận lớn, quân Đại Việt thua to. Sau đó quân Chiêm còn thắng nhiều trận
nữa, uy thế tăng cao làm triều đình nhà Trần phải khiếp sợ. Vua Trần phải sai
Trần Khát Chân làm tướng cự địch, bên phía Chiêm gặp phải nội phản, quân Việt
nhờ may mắn mà thắng được, vua Chiêm là Bồng Nga bị chết trận, bị tướng của
mình là Nguyên Diệu cắt đầu đem dâng.
Lần tiến quân này là thất bại rất lớn của Chiêm Thành, chủ tướng
Chê Bồng Nga mất, chấm dưt vương triều thứ XII được xem là một trong những
vương triều thịnh đạt nhất trong lịch sử của vương quốc Chămpa.
Theo Đại Việt sử kí toàn thư sau khi Chế Bồng Nga mất rồi, nhà
Trần liền cho thu phục lại đất cũ. Tháng 2 năm Quang Thái thứ 4 (1394) sai Lê
Quý Ly (sau đổi là Hồ Quý Ly) đem quân đi tuần châu Hóa, xét định quân ngũ, sửa,
xây thành trì. Đất từ Hóa Châu trở ra Nghệ An lại về Đại Việt.
Năm 1400, Hồ Quý Ly phế bỏ nhà Trần và tự mình lên ngôi vua, đổi
tên nước là Đại Ngu. Vua Hồ lúc này đang bị lòng dân chê trách nên rất muốn làm
được việc gì to lớn để trấn an thời cuộc, lúc đó ông liền nghĩ đến việc phải
đánh Chiêm Thành mở rộng bờ cõi phía Nam. “Năm Nhâm Ngọ (1402) tướng nhà Hồ là
Đỗ Mãn đem quân đi đánh Chiêm Thành. Vua nước ấy là Ba Đích Lại sai cậu là Bồ
Điền sang dâng đất Chiêm Động (phủ Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam) để xin bãi binh.
Quý Ly bắt phải dâng đất Cổ Lũy (Quãng Ngãi)”.
Về việc này, Đại Việt Sử ký toàn thưcũng ghi chép : “Vua nước
Chiêm là Ba Đích lại sợ, sai cậu là Bố Điền dâng voi trắng voi đen mỗi thứ một
con và các sản vật địa phương, lại dâng đất Chiêm Động để xin rút quân. Bố Điền
đến Quý Ly bắt ép phải đổi tờ biểu là dâng nộp cả động Cổ Lũy. Rồi chia đất ấy
ra làm bốn châu Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa, đặt an phủ sứ và phó sứ lộ Thăng Hoa để
cai trị, miền đầu nguồn đất ấy thì đặt trấn Tây Ninh. Chiêm Thành thu lấy những
dân tiệm cận về nước, còn người ở lại thì bổ làm quan”.
“Năm Quý Mùi (1403) nhà Hồ lại muốn lấy những đất Bạt Đạt Gia, Hắc
Bạch, và Sa Ly Nha về phía nam những đất đã nhường năm trước, bèn sai Phạm
Nguyên Khôi và Đỗ Mãn đem thủy bộ cả thảy 20 vạn quân sang đánh Chiêm Thành.
Quân nhà Hồ vào vây thành nhà Hồ hơn một tháng trời mà đánh không đổ, lương thực
hết cả, phải rút quân về. Lần này hao binh tổn tướng mà không có công trạng
gì”.
Họ Hồ chiếm được Chiêm Động và Cổ Lũy thì chia đất làm 4 châu là
Thăng, Hoa, Tư , Nghĩa, đặt lộ Thăng Hoa làm thống hạt 4 châu. “Sau khi nhượng
đất Chiêm Động và Cổ Lũy cho ta, Chiêm Thành thu lấy những dân cận tiệm đem về
nước, còn người ở lại thì dùng làm quân, có lẽ đóng ở biên giới. Như vậy trong
đất ấy chắc là không còn nhiều người Chiêm”.
Như vậy từ đời nhà Hồ thì vùng đất Chiêm Động và Cổ Lũy lại được
sát nhập vào nước ta. Đây là một tổn thất to lớn vì hầu hết những vùng thánh địa trung tâm của văn minh Chămpa đều nằm ở vùng
đất này, trong đó có hai kinh đô cũ là Simhapura và Indrapura (tức Đồng Dương
và Trà Kiệu). Cũng từ giai đoạn này trở đi, vùng đất Quãng Nam đã chính thức
sát nhập vào lãnh thổ Đại Việt và chịu sự quản lí trực tiếp của chính quyền
phong kiến trung ương.
Về sau, lợi dụng nước ta vừa trải qua cuộc kháng chiến với nhà
Minh, Chiêm Thành đem quân vào đánh phá. Nào ngờ Việt tộc lại sớm phục hưng với
nhà Lê. Và nhà Lê từ thời Lê Thái Tông năm 1434, 1444, 1445, Chiêm Thành được
lòng nhà Minh lại đánh cướp Hóa Châu nhưng bị quân ta đánh bại. Đến thời Lê
Thánh Tông vào năm 1470 Chiêm Thành đem 100.000 quân đánh Thuận Hóa.
Lần này, 1471, vua Lê Thánh Tông sắp đặt một trận đại quy mô để
quyết tâm làm cho Chiêm Thành kiệt quệ. Thắng trận Đồ Bàn (hay còn gọi là Trà
Bàn), kinh đô của Chiêm Thành, bắt được vua Chiêm, vua Lê Thánh Tông lấy tất cả
đất đai từ Thạch Bi Sơn (tỉnh Phú Yên) về phía Bắc lập thành Thừa Tuyên Quảng
Nam, đặt phủ, huyện, ra lệnh khắc bia trên núi gọi là núi Đá Bia. Còn bao nhiêu
đất đai của Chiêm Thành còn lại (1/5) vua chia thành ba nước nhỏ là Chiêm
Thành, Hoa Anh và Nam Phan cho tướng Chàm làm chúa.
Theo sử liệu để lại thì nước ta còn tiến về phương Nam trong
giai đoạn về sau nữa, nhưng bằng nhiều con đường khác nhau. Từ sau lần vua Lê
Thánh Tông đem quân vào nam đến đất Phú Yên lần này thì nhìn chung nước Chămpa
đã suy yếu lắm rồi, không còn đủ sức quấy phá Đại Việt nữa. Cuộc chiến tranh
triền miên qua nhiều thời kỳ giữa hai dân tộc Việt – Chăm đến đây xem như kết
thúc.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét