TẠI SAO LIÊN XÔ KHÔNG GỬI LỤC QUÂN TỚI TRIỀU TIÊN?
Nói một chút về bối cảnh, sự hình thành của Đại Hàn Dân Quốc vào
tháng 8 năm 1948 và Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên vào tháng 9 cùng năm
đó tại bán đảo Triều Tiên dọc theo vĩ tuyến 38, là kết quả của mối quan hệ ngày
càng xấu đi giữa Washington và Moscow. Ở phía bắc, Kim Nhật Thành được chính uỷ
của Liên Xô, Thượng tướng Terentii Shtykov, lựa chọn làm lãnh đạo của Triều
Tiên. Và ở phía nam, Lý Thừa Vãn, nhờ có sự ủng hộ của Đại tướng MacArthur và
các tướng lĩnh quân đội khác, được bầu làm Tổng thống Hàn Quốc.
Căng thẳng ngay lập tức leo thang sau các cuộc “bầu cử” riêng biệt
ở hai miền năm 1948, với việc hai chế độ đều tuyên bố có toàn quyền lãnh thổ tại
cả bán đảo Triều Tiên và sẵn sàng sử dụng vũ lực để bảo vệ tuyên bố này. Việc Mỹ
và Liên Xô rút quân khỏi bán đảo chỉ làm leo thang căng thẳng hơn nữa vì cả hai
chế độ ngày càng trở nên cực đoan. Cả Kim và Lý đều muốn tìm cách giải quyết vấn
đề Triều Tiên trước khi bên kia kịp thời hành động.
Ngày 31 tháng 3 năm 1949, Kim Nhật Thành trực tiếp xin Stalin
cho phép động binh để thống nhất bán đảo dưới ngọn cờ của Đảng Lao động Triều
Tiên. Từ năm 1948 đến năm 1950, Kim đã xin phép tấn công miền Nam ít nhất là 48
lần, gửi hàng loạt thư điện tín và trực tiếp đến Moscow, rồi sau đó là Bắc Kinh
để thuyết phục Stalin và Mao rằng thời điểm tấn công đã chín mùi.
Trong tất cả cuộc họp, Mao và Stalin đều từ chối lời đề nghị của
Kim vì 2 lý do chính: 1) Sự thật là Quân đội Nhân dân Triều Tiên thiếu nguồn
nhân lực và vũ khí để có thể áp đảo hoàn toàn miền nam; 2) Việc xâm lược Hàn Quốc
bây giờ có khả năng khiến Hoa Kỳ can thiệp và biến cuộc chiến tranh khu vực
thành một cuộc chiến toàn cầu.
Cả Stalin và Mao đều biết rằng nước mình không thể đánh lại Mỹ
trong một cuộc chiến toàn cầu quá sớm sau Thế chiến 2 và Nội chiến Trung Quốc.
Trung Quốc cần “từ 3 tới 5 năm hoà bình” theo lời của Mao để phục hồi nền kinh
tế bằng với trước cuộc chiến, trong khi Liên Xô đang gặp khó khăn với ảnh hưởng
của phương Tây vào các nước Đông Âu. Tuy nhiên, cả Stalin vào Mao đều không muốn
làm mất lợi thế chính trị nên viện cớ rằng sẽ không phản đối mong muốn của Kim,
mà vấn đề chỉ là thời gian.
Ngày 30 tháng 1 năm 1950, Stalin đã chuẩn bị đối mặt với vấn đề
này và điện tín cho Đại sứ Liên Xô ở Triều Tiên, Terentii Shtykov rằng:
“Tôi hiểu được sự khó chịu của đồng chí Kim Nhật Thành, nhưng
ông ấy phải hiểu các vấn đề lớn hơn liên quan đến Hàn Quốc [...] đòi hỏi sự chuẩn
bị thật kỹ càng. Việc này phải được tổ chức như vậy để tránh rủi ro lớn. Nếu
ông ấy muốn bàn trực tiếp với tôi về việc này, thì tôi luôn sẵn sàng để gặp ông
ấy. [...] Tôi cũng đã sẵn sàng hỗ trợ ông ấy trong mọi vấn đề.”
• Điện tín Stalin gửi cho Shtykov, ngày 30 tháng 1 năm 1950.
Còn tại sao Stalin lại bật đèn xanh cho Kim tấn công Hàn Quốc,
vì có 4 việc đã làm thay đổi cách nhìn của ông về cán cân quyền lực quốc tế:
1. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã giành chiến thắng trước quân đội
của Tưởng Giới Thạch và Quốc Dân Đảng, ngoài ra còn ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp
tác Trung-Xô, đảm bảo liên minh khi có chiến tranh.
2. Việc Liên Xô thử nghiệm thành công RDS-1 ngày 29 tháng 8 năm
1949 đã phá vỡ sự độc quyền bom nguyên tử của Mỹ.
3. Việc thành lập khối NATO và mâu thuẫn giữa Moscow với phương
Tây về những vấn đề như Thổ Nhĩ Kỳ, Iran và Berlin.
4. Mỹ đã rút quân khỏi bán đảo và tình báo Liên Xô có nguồn tin
từ bên trong cho thấy Tổng thống Truman có ý định dần rút khỏi châu Á. (Việc
quan trọng nhất đối với Stalin).
Kim và Bộ trưởng Bộ ngoại giao Triều Tiên, Phác Hiến Vĩnh, tới
Moscow ngày 30 tháng 3, nơi có 3 cuộc họp diễn ra từ ngày 15 đến ngày 25 tháng
4 giữa ông và Stalin, bàn về việc Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên sẽ mở một
cuộc chiến tranh. Trong các cuộc họp, Kim thường nói với Stalin về sự cần thiết,
tốc độ của cuộc chiến và chắc chắn rằng nhân dân miền Nam sẽ nổi dậy chống lại
chính phủ Seoul (spoiler alert: không có đâu.)
Stalin, vì những thay đổi trong tình hình quốc tế, đồng ý hỗ trợ
vũ khí, hậu cần và huấn luyện Quân đội Nhân dân Triều Tiên cho cuộc xâm lược,
nhưng nhấn mạnh rằng nếu tình hình không được thuận lợi, Kim chỉ được nhờ Mao
giúp đỡ:
“Nếu mọi việc chuyển biến xấu, tôi sẽ không giúp một tay đâu.
Ông phải nhờ Mao giúp cả thôi.”
• Major Problems in American Foreign Relations, Volume 2,
(T.256)
Sững sờ trước việc này, Kim tới thăm Bắc Kinh ngày 13 tháng 5 để
xin Mao đồng ý, việc làm vô cùng khó khăn - báo cáo của Đại sứ Liên Xô tại Bắc
Kinh, N.V Roshchin, ghi nhận rằng cuộc họp đầu tiên là một thảm hoạ - ông trở về
Triều Tiên ngày 16 tháng 5 để chuẩn bị cho cuộc tấn công sắp diễn ra. Ngày 25
tháng 6, Triều Tiên nổ phát súng đầu tiên.
A few moments later...
Tháng 9 sau đó trở thành thảm hoạ cho quân Triều Tiên, mặc kệ lời
cảnh báo của các cố vấn Liên Xô và nguồn thông tin từ tình báo về cuộc đổ bộ tại
Inchon, Kim và Quân đội Nhân dân Triều Tiên vẫn tập trung đánh vào Vành đai
Pusan. Khi cuộc đổ bộ thành công, giúp Mỹ có được bàn đạp sâu bên trong chiến
tuyến của Triều Tiên, bộ chỉ huy của Bắc Hàn hoàn toàn tê liệt, không quyết định
được nên làm gì. Quân Liên Hiệp Quốc sau đó phản công từ Vành đai Pusan và tiêu
diệt hoàn toàn lực lượng Triều Tiên còn sót lại tại miền Nam, khiến Bắc Hàn phải
ra lệnh rút quân về phía bắc vĩ tuyến 38 để tránh thương vong cao hơn nữa.
Ngày 29 tháng 9, Kim tới gặp Đại sứ Liên Xô Shtykov và báo cáo về
tình hình tồi tệ hiện tại của quân đội, ngoài ra, ông còn mất liên lạc với Tổng
tư Lệnh tối cao Thôi Dong Kiệt ở Seoul, và rất lo lắng về việc quân Liên Hiệp
Quốc sẽ đẩy qua vĩ tuyến 38. Cùng ngày đó, Kim và Phác Hiến Vĩnh gửi thư cho
Stalin, nói về thất bại do cuộc đổ bộ Inchon và chiến dịch phản công tại Vành
đai Pusan, nhưng quả quyết rằng Triều Tiên sẽ chiến đấu cho tới giọt máu cuối
cùng:
“Vì vậy, thưa đồng chí Iosif Vissarionovich, chúng tôi không biết
làm gì hơn ngoài việc nhờ ông giúp đỡ, nói cách khác, tại thời điểm quân địch
vượt vĩ tuyến 38 chúng tôi sẽ vô cùng cần sự hỗ trợ quân sự của Liên bang Xô viết.
Nếu vì bất cứ lý do gì điều này không thể thực hiện được, xin
giúp chúng tôi bằng cách nhờ Trung Quốc và các quốc gia cộng hoà dân chủ nhân
dân khác gửi quân tình nguyện đến hỗ trợ cho chúng tôi.”
• Bức điện mã # 600308/sh, gửi từ Bình Nhưỡng lúc 20:35, 30/9/50
và nhận được tại Moscow lúc 23:32, 30/9/50.
Khi nhận được lời cầu cứu, Stain đánh bức điện tín vào ngày 1
tháng 10 cho Mao, nhờ Trung Quốc can thiệp vào cuộc Chiến tranh Triều Tiên:
“Tôi đang trên kỳ nghỉ mát khá xa Moscow và khá mơ hồ về các sự
kiện tại Triều Tiên. Tuy nhiên, đánh giá qua các thông tin nhận được từ Moscow
hôm nay, tôi thấy rằng tình hình các đồng chí Triều Tiên của chúng ta đang trở
nên khá tuyệt vọng.
Tôi nghĩ nếu tình hình hiện tại cho phép ông gửi quân đội đến
Triều Tiên, thì ông nên gửi ít nhất 5-6 sư đoàn tới vĩ tuyến 38 ngay để giúp
các đồng chí Triều Tiên có cơ hội tổ chức lại lực lượng dự bị phía bắc vĩ tuyến
38. Các sư đoàn Trung Quốc sẽ được coi là quân tình nguyện, chỉ huy bởi tướng
lĩnh Trung Quốc, tất nhiên.
Tôi chưa thông báo và sẽ không thông báo với các đồng chí Triều
Tiên về vấn đề này, nhưng tôi nghĩ họ sẽ rất vui khi biết được chuyện.”
• Bức điện được gửi tới Nikolai Bulganin lúc 3:00, 1/10/50.
Đáp lại, Mao đã từ chối lời đề nghị, đây là một trong số ít lần
Mao dám đi ngược lại quyết định của Stalin, nói rằng nếu Trung Quốc còn can thiệp
vào Triều Tiên sẽ để lại “hậu quả cực kỳ nghiệm trọng”:
“Tôi đã nhận được bức điện ngày 1.10.50 của ông. Chúng tôi ban đầu
dự định gửi một số sư đoàn tình nguyện đến cho các đồng chí Triều Tiên khi quân
địch vượt qua phía bắc vĩ tuyến 38.
Tuy nhiên, sau khi suy nghĩ lại thật kỹ, chúng tôi hiện tại cho
rằng hành động như vậy sẽ gây ra hậu quả cực kỳ nghiêm trọng.
Điều thứ nhất, rất khó để giải quyết vấn đề tại Triều Tiên với
chỉ một ít sư đoàn (binh lính của chúng tôi được trang bị với vũ khí rất yếu
kém, và không ai đủ tự tin rằng sẽ có thể thắng được binh lính Mỹ trong một chiến
dịch quân sự), quân địch có thể buộc chúng tôi phải rút lui.
Điều thứ hai, rất có thể việc này sẽ dẫn tới một cuộc chiến
tranh tổng lực giữa Mỹ và Trung Quốc, và hậu quả có thể là kéo theo cả Liên Xô
vào cuộc chiến, và vấn đề sẽ ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn.
Tất nhiên, không gửi binh lính đến sẽ rất tệ cho các đồng chí
Triều Tiên, những người đang trong tình trạng khó khăn, chúng tôi vô cùng hiểu
điều này; nhưng nếu chúng tôi đưa ra một số sư đoàn và quân địch buộc chúng tôi
phải rút lui; và hơn nữa dẫn đến một cuộc chiến tranh tổng lực giữa Mỹ và Trung
Quốc, thì toàn bộ kế hoạch xây dựng hoà bình của chúng tôi sẽ bị huỷ hoại, khiến
nhân dân trong nước sẽ vô cùng phẫn nộ (vết thương do cuộc chiến tranh để lại
cho nhân dân vẫn chưa hàn gắn xong, chúng tôi cần hoà bình).
Vì vậy hiện tại chúng ta nên kiên nhẫn, không đưa thêm nhiều
binh lính, [và] chuẩn bị xây dựng lực lượng, sẽ có lợi hơn khi thời điểm chiến
tranh với kẻ thù đến. Triều Tiên, trong khi tạm thời chịu thất bại, sẽ được
chuyển sang đấu tranh du kích.
• Bức điện Moscow nhận được vào lúc 12:15, 10/3/50.
Đại sứ Rothchin đã đưa ra lời thẩm định riêng của mình ở phần
tái bút trong cùng bức điện đó:
“Theo quan điểm của chúng tôi, câu trả lời của MAO TRẠCH ĐÔNG
cho thấy sự thay đổi trong cách nhìn nhận của lãnh đạo Trung Quốc về vấn đề Triều
Tiên. Nó hoàn toàn ngược lại trong với những nhận định ban đầu, cho thấy qua cuộc
trao đổi giữa MAO TRẠCH ĐÔNG với YUDIN, KOTOV và KONNOV; mà LƯU THIẾU KỲ và tôi
đã báo cáo trước đây. Trong các cuộc trao đổi đó, đã cho thấy họ, nhân dân và
Giải phóng quân Nhân dân Trung Quốc sẵn sàng giúp đỡ nhân dân Triều Tiên, tinh
thần chiến đấu của Giải phóng quân Nhân dân Trung Quốc khá cao và đã chuẩn bị
đánh bại quân Mỹ, cho rằng họ còn yếu hơn cả Nhật.
Lý do Trung Quốc thay đổi suy nghĩ hiện chúng tôi vẫn chưa rõ.
Có thể là do ảnh hưởng của tình hình quốc tế, tình trạng ngày càng khó khăn ở
Triều Tiên, sự mưu mô của liên quân Anh-Mỹ nhờ NEHRU, người khuyên Trung Quốc
nên kiên nhẫn và tránh xa khỏi việc can thiệp để không mắc phải thảm hoạ.”
• Bức điện Moscow nhận được vào lúc 12:15, 10/3/50.
“Lý do thay đổi” liên quan tới nhận định của Trung Quốc mà Đại sứ
Rothchin nói tới là thật ra là cân nhắc của Bộ chính trị Trung Quốc về việc có
nên can thiệp hay không.
(Khá thú vị là trong khi Stalin đang tranh cãi về việc can thiệp
Triều Tiên với Mao, ông đồng thời cũng liên lạc với Đại sứ Shtykov, cho phép
ông sơ tán tất cả các cố vấn Liên Xô tại Triều Tiên trong trường hợp khẩn cấp,
cho dù Kim có đồng ý hay không.)
Hiện tại, việc Mao miễn cưỡng hay nhiệt tình muốn hỗ trợ Bắc Hàn
trong Chiến tranh Triều Tiên vẫn còn gây tranh cãi, đặt biệt là giữa các sử gia
Trung Quốc với nhau. Tuy nhiên, những bằng chứng cho thấy Mao miễn cưỡng có vẻ
nhiều hơn, bởi ông có các mục tiêu địa chính trị lớn hơn - chiếm đảo Đài Loan,
tiêu diệt tàn dư Quốc Dân Đảng, xáp nhập Tây Tạng - những mục tiêu mà cuộc chiến
tại Triều Tiên đã làm ông mất đi cơ hội hoàn thành và Trung Quốc cũng đang cần
hoà bình để xây dựng kinh tế. Hơn nữa, trong bức điện tín ngày 3 tháng 10, Mao
cố tình dời cuộc họp nội bộ lại nhiều tháng, sau cuộc họp, ông, Chu Ân Lai, Lưu
Thiếu Kỳ lại tuyên bố sẽ hỗ trợ Triều Tiên nếu có thể.
Về tại sao, một lần nữa, có rất nhiều tranh cãi xung quanh vấn đề
này bởi vì Trung Quốc vẫn giữ bí mật trong kho tài liệu lưu trữ về diễn biến của
cuộc họp, có thể hiểu được do sự nhạy cảm của Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều
Tiên, nhưng có nhiều bằng chứng cho thấy cuộc họp diễn ra theo hai hướng: 1)
Mao nói dối rằng ông không hề từ chối, và Stalin đã hứa sẽ hỗ trợ không quân và
hậu cần trước khi Trung Quốc can thiệp. Hoặc 2) Mao tìm cách tránh xa khỏi cuộc
chiến, và chấp nhận Kim thua nếu Trung Quốc sống sót.
Chu Ân Lai tới gặp Stalin tại nhà nghỉ của ông ở Sochi từ ngày 9
tới ngày 10 tháng 10 để họp với ông về việc Liên Xô hỗ trợ cho Trung Quốc can
thiệp. Tại đây, một lần nữa, nguồn Nga và nguồn Trung ghi nhận hai diễn biến
hoàn toàn khác nhau và các sử gia vẫn tranh cãi xem việc này xảy ra như thế
nào:
• Theo nguồn Nga: Chu đã tới cuộc họp và tuyên bố chắc chắn rằng
Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa sẽ không gửi quân tình nguyện, vì lý do đã nói là để
phục hồi kinh tế và ổn định đất nước.
• Theo nguồn Trung: Chu đã tới cuộc họp nhưng Stalin tuyên bố huỷ
bỏ hết tất cả lời hứa sẽ hỗ trợ không quân và hậu cần cho Mao, phản bội và bắt
Trung Quốc phải tham gia vào cuộc chiến.
Còn về phía Stalin, ông cảm thấy rằng Mao và Chu đang chơi trò
ngoại giao kiểu mèo vờn chuột với ông, một người giả vờ muốn hỗ trợ còn một người
thì lại nói không hỗ trợ được, hy vọng sẽ khiến ông để Triều Tiên chết giúp
Trung Quốc có hoà bình, khiến Stalin tức điên lên.
Stalin gọi Trung Quốc là “bọn dối trá,” đánh điện cho Kim ngày
13 tháng 10, ra lệnh di tản khẩn cấp vì sự cự tuyệt của Trung Quốc:
“... tiếp tục chống cự thì cũng vô ích. Các đồng chí Trung Quốc
đã từ chối cho quân đội tham chiến. Trước tình hình này ông nên chuẩn bị cho cuộc
tổng di tản sang Trung Quốc và/hoặc Liên Bang Xô Viết. Có một điều rất quan trọng
là phải mang theo tất cả binh lính và vũ khí. Hãy lên kế hoạch rút quân thật tỉ
mỉ và dự bị đủ binh lính.”
• Bức điện của Stalin gửi cho Kim Nhật Thành ngày 13 tháng 10
năm 1950.
Đây là một trong số ít những giây phút mà Stalin chấp nhận thất
bại, thấy rằng nếu cả ông và Mao đều không muốn đưa quân đội vào Triều Tiên để
thay đổi tình hình trước nguy cơ chiến tranh với Mỹ, ông thà để mất Triều Tiên
còn hơn gây ra Thế chiến 3 mà Liên Xô vẫn chưa chuẩn bị.
Nhưng không quan trọng nữa, Bộ Chính trị Trung Quốc đã đầu hàng
trước áp lực từ Liên Xô. Ngày 14 tháng 10, Đại sứ quán Liên Xô đã gọi cho
Stalin, thông báo việc Mao đồng ý gửi quân tình nguyện đến cho Triều Tiên:
“Tại thời điểm này, họ đã gửi đợt lính đầu tiên với 9 sư đoàn. Mặc
dù trang bị yếu kém, họ cũng đủ để chống lại quân đội của Lý Thừa Vãn. Trong thời
gian đó, Trung Quốc cũng đã chuẩn bị để gửi đợt lính thứ hai.
Điều duy nhất mà chúng tôi cần, Mao Trạch Đông nói, chính là không
quân. Chúng tôi hy vọng nhận được không quân sớm nhất có thể, nhưng không được
trễ hơn 2 tháng.”
Cuối cùng, phải đến tận 5 tháng để không quân Liên Xô tới Triều
Tiên, tại thời điểm đó quân Triều Tiên và Trung Quốc đã thiệt hại rất nặng nề
vì không quân của Liên Hiệp Quốc, điều mà các chỉ huy Trung Quốc đã lo ngại trước
cả khi tham chiến.
Khi các phi công của Liên Xô đến, Stalin ra lệnh cho họ tránh xa
khỏi vĩ tuyến 38 nhất có thể và giúp rất ít cho các chiến dịch của lục quân của
Trung Quốc. Tuy nhiên, ông cũng hỗ trợ một số việc như gửi 13 sư đoàn không
quân (Quân đoàn số 67) tới đông bắc Trung Quốc, huấn luyện phi công Trung Quốc,
gửi 10 trung đoàn thiết giáp đến các thành phố phía đông và đông bắc Trung Quốc
để đảm bảo an ninh.
Cuối cùng, Stalin không hề gửi một binh lính nào vào trong cuộc
chiến như Mao đã làm và ra lệnh cho những phi công hỗ trợ từ Liên Xô tránh xa
chiến trường nhất có thể để tránh làm lan rộng cuộc chiến cuộc chiến trong khu
vực.
Trong khi Stalin tin chắc rằng Thế chiến 3 là điều không thể
tránh khỏi, ông không muốn nó bắt đầu quá sớm sau Thế chiến 2, khi mà quân đội
Liên Xô vẫn chưa sẵn sàng. Như vậy, ông đã gây áp lực và ép buộc Trung Quốc phải
thay thế hỗ trợ cho Kim và Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, mặc dù chính
ông cho là người cho phép Bắc Hàn gây ra cuộc chiến tranh.
Stalin chọn lấy Mao và Kim ra đặt cược.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét