Tự thuật của một trùm KGB bỏ
trốn
Tác giả: Alexander M. Orlov | Biên dịch: Nguyễn Hải Hoành
Khi viết những dòng này tôi[1] không thuộc bất kỳ đảng phái nào;
nhưng cho tới trước ngày 12/7/1938 thì tôi vẫn là đảng viên Đảng Cộng sản
Bolshevik Liên Xô. Trong thời kỳ Nội chiến cách mạng (1918-1920), tôi từng chỉ
huy một đội du kích trong vùng địch hậu. Sau Nội chiến, tôi làm Phó Chánh án
Tòa án nhân dân Tối cao Liên Xô. Năm 1924, tôi làm Cục phó Cục Quản lý kinh tế
thuộc Tổng cục Bảo vệ Chính trị nhà nước (sau là Bộ Ủy viên nhân dân Nội vụ
Liên Xô, tức Bộ Nội vụ, NKVD). Năm 1926, tôi làm Vụ trưởng Vụ kinh tế thuộc Tổng
cục này. Tháng 9/1936, Bộ Chính trị Trung ương Đảng cử tôi sang làm Cố vấn cho
Chính phủ Cộng hòa Tây Ban Nha,[2] phụ trách tổ chức công tác phản gián và chiến
tranh du kích vùng địch hậu.
Trong thời gian công tác tại Tổng cục Bảo vệ Chính trị nhà nước,
tôi sưu tầm được khá nhiều tài liệu về các vụ xét xử và hành quyết một số cựu
lãnh tụ Cách mạng Tháng Mười Nga – các bạn chiến đấu của Lenin cà các tài liệu
về mối liên quan giữa Stalin với họ. Tôi ghi chép tỉ mỉ các chỉ thị miệng của
Stalin nói với cán bộ lãnh đạo Bộ Nội vụ, kể cả chỉ thị về cách dẹp sự chống đối
Stalin từ phía các bạn chiến đấu cũ của
Lenin, các chỉ dẫn cách ép cung để lấy được các bản nhận tội giả. Tôi
còn ghi được cả một số bài nói của Stalin với các đồng chí đó và cả lời phát biểu
của họ trước khi bị hành quyết. Những tài liệu tuyệt mật được dầy công cất giấu
bao năm này là do các trinh sát viên của Bộ Nội vụ cung cấp, trong đó có người
phó của tôi là Mironov (sau là Cục trưởng Cục Quản lý kinh tế Bộ Nội vụ) và
Boris Berman, Cục phó Cục Đối ngoại Bộ Nội vụ.
Đầu năm 1937, người ta đã thanh toán mà không qua xét xử hầu như
toàn bộ cán bộ lãnh đạo và trinh sát viên của Bộ Nội vụ từng trực tiếp tham gia
việc ép buộc một số cựu lãnh tụ Cách mạng tháng Mười đưa ra các bản nhận tội giả.
Tiếp đó lại xảy ra vụ hành quyết hàng nghìn cán bộ Bộ Nội vụ từng nắm giữ các
tin tức tình báo bí mật. Khi đang ở Tây Ban Nha, tôi nhận được tin Bộ trưởng Bộ
Nội vụ G. Zagoda bị bắt.[3] Xem ra sắp đến lượt tôi chung số phận với họ. Nhưng
tôi chưa thể trốn đi vì mẹ đẻ và mẹ vợ tôi đều đang còn ở Liên Xô; họ sẽ bị coi
là những con tin, nếu tôi từ chối về nước thì hai bà sẽ bị hành quyết.
Trong các trận chiến đấu với bọn phát xít Franco, đã nhiều lần
tôi nghĩ: giá mình hy sinh bây giờ thì những người thân trong nước sẽ không bị
nguy hiểm nữa, như vậy còn tốt hơn là mình bỏ trốn khỏi cương vị hiện nay. Song
đó chỉ là suy nghĩ của những kẻ hèn nhát. Tôi tiếp tục làm việc giữa những người
Tây Ban Nha mà lòng dũng cảm của họ luôn làm tôi thán phục, và mơ ước hão huyền
đợt sóng thanh trừng cực kỳ tàn bạo ở Moskva sẽ chấm dứt sớm.
Tháng 8/1937, tôi nhận được điện báo của Abram Slutsky, Cục trưởng
Cục Đối ngoại Bộ Nội vụ (NKVD Foreign Intelligence), cho biết bọn đặc vụ của
Franco và Hitler có ý định bắt cóc tôi, do đó Bộ Nội vụ chuẩn bị cử một đội vệ
sĩ 12 người sang bảo vệ tôi. Tôi hiểu ngay rằng nhiệm vụ đầu tiên của đội này sẽ
là trừ khử … chính tôi.
Thế là tôi trả lời rằng tôi không cần vệ sĩ, vì Bộ Tư lệnh của
tôi đang được Cận vệ quân Quốc dân Tây Ban Nha bảo vệ suốt ngày đêm, tôi đi đâu
họ cũng đi theo. Điều này hoàn toàn có thật; nhờ đó Slutsky không phái vệ sĩ
sang Tây Ban Nha nữa.
Song bức điện nói trên khiến tôi cảnh giác. Chắc Yezhov Bộ trưởng
mới của Bộ Nội vụ đã ra lệnh cho đội biệt động mật của ông ta phải khử tôi ngay
tại Tây Ban Nha. Để đối phó lại âm mưu ấy, tôi cử người ra mặt trận chọn từ Lữ
đoàn Quốc tế người Đức ra 10 đảng viên cộng sản trung thành và dày dạn kinh
nghiệm chiến đấu nhất, lập thành một đội vệ sĩ của tôi, trang bị tiểu liên và lựu
đạn, luôn bám sát tôi.
Tháng 10/1937, Spigoria, người phó của Slutsky tới Tây Ban Nha.
Cách đây ba tháng, chính tay này đã bố trí vụ mưu sát đồng chí Ignace Reiss, tổ
trưởng tổ tình báo Liên Xô tại Thụy Sĩ. Spigoria không có bất cứ công việc
chính thức nào ở Tây Ban Nha, như vậy việc anh ta có mặt ở đây chỉ chứng minh dự
đoán của tôi, nhất là khi tôi biết là vừa đến Madrid, anh ta gặp ngay Borodin,
kẻ được Yezhov phái sang chỉ huy đội biệt động chuyên thực hiện các vụ khủng bố.
Hai người này ắt hẳn đã phải cân nhắc việc nếu muốn hạ sát tôi thì họ không thể
không chạm súng với đội vệ sĩ của tôi. Hay là họ muốn bắt cóc đứa con gái 14 tuổi
của tôi để ép tôi phải về nước?
Nỗi lo này lớn dần, cuối cùng tôi phóng xe về nhà mình ở ngoại ô
Barcelona đón vợ và con gái đưa ngay sang Pháp. Tại một nơi gần biên giới, tôi
thuê nhà cho hai mẹ con trọ và để lại đây một người của Cục Cảnh sát mật Tây
Ban Nha vừa là lái xe vừa là bảo vệ. Xong việc, tôi lập tức trở về công tác như
cũ.
Ngày 9/7/1938, Yezhov ra lệnh: đúng ngày 14 tôi phải có mặt trên
một chiếc tàu Liên Xô có tên là Svir đang đậu tại cảng Antwerpen ở Bỉ để bàn
công việc với “một người quen của đồng chí”; rồi tôi phải cùng với Periukov, Tổng
Lãnh sự Liên Xô tại Bỉ đi bằng xe của Đại sứ Liên Xô tại Pháp đến một nơi hẹn.
Yezhov giải thích: “do nhiệm vụ sắp tới rất quan trọng”, nên sẽ để
Periukov “làm người trung gian” là thích
hợp.
Bức điện vừa dài dòng văn tự vừa khó hiểu, chứng tỏ Yezhov và
các cộng sự mới ở Bộ Nội vụ còn quá non nớt về nghiệp vụ so với những người tiền
nhiệm đã bị thanh toán hết. Họ ngu xuẩn tới mức để lộ tất cả các ý đồ xấu xa đối
với tôi: chiếc tàu Svir kia sẽ là cái nhà tù nổi giam giữ tôi. Tôi trả lời
Yezhov là sẽ có mặt tại Antwerpen đúng hẹn.
Ngày 12/7, tôi đến biên giới Pháp. Tại đây tôi chia tay với đội
bảo vệ và người vệ sĩ mặc thường phục của Cục Cảnh sát mật Tây Ban Nha đi theo
tôi lâu nay. Anh lái xe người Tây Ban Nha đưa tôi đến Pertinan đón gia đình tôi
ra ga xe lửa. Sáng hôm sau chúng tôi đến Paris. Tôi biết mình phải rời nước
Pháp ngay, vì chỉ trong 48 giờ, mạng điệp viên tại Pháp của Yezhov sẽ đánh hơi
ra tung tích tôi.
Đối với tôi, nơi tị nạn an toàn nhất là nước Mỹ; do đó tôi gọi
điện đến Sứ quán Mỹ xin gặp Đại sứ William Boris. Không may ông vắng mặt, vì
ngày mai là quốc khánh Pháp [14/7]. Chúng tôi bèn đến cơ quan đại diện Canada tại
Paris, xuất trình hộ chiếu ngoại giao và xin cấp thị thực nhập cảnh với lý do
đi nghỉ hè tại Quebec. Hồi ấy Liên Xô chưa lập quan hệ ngoại giao với Canada
nên tôi rất lo sẽ bị từ chối. May sao ông Trưởng Đại diện rất thông cảm và còn
viết thư tay giới thiệu tôi với Cục Xuất nhập cảnh Quebec nhờ họ tạo thuận lợi
cho tôi. Sau đó tôi đến ngay nơi bán vé của Công ty Vận tải biển mua vé đi
Canada, rồi phóng taxi đến ga xe lửa đáp chuyến tàu Paris-Serburg.
Mấy giờ sau chúng tôi đã rời cảng Serburg, lênh đênh trên Đại
Tây Dương. Con gái tôi rất mừng vì được đi du lịch châu Mỹ. Nó đâu có ngờ rằng
sẽ chẳng bao giờ được trở về Tổ quốc gặp bà nội và bà ngoại nữa. Cháu bị bệnh
tim, chắc sẽ chết yểu; do đó chúng tôi không nỡ cho cháu biết số phận của gia
đình. Song thấy bố mẹ luôn lo âu và mọi chuyện đều thì thầm có vẻ bí ẩn, cháu
đoán ra ngay sự thật. Nó khóc suốt đêm, chiếc gối ướt đẫm nước mắt.
Sau khi tới Canada, tôi viết ngay cho Stalin một bức thư rất
dài; bản sao thư ấy tôi gửi cho Yezhov. Mục đích chính của thư này là nhằm bảo
vệ tính mạng hai bà mẹ của tôi. Stalin quen tôi từ năm 1924, tôi rất hiểu con
người ông; vì vậy tôi không chọn cách xin xỏ tình thương, mà dùng cách cảnh
cáo: nếu người của ông dám động đến hai bà thì tôi sẽ lập tức công bố trước
toàn thế giới tất cả những chuyện tôi biết về Stalin. Để chứng tỏ lời đe dọa của
mình không phải là lời nói suông, tôi liệt kê tất cả các tội trạng của Stalin
thành một bảng kèm theo thư. Ngoài ra tôi còn báo trước: nếu tôi bị người của
Stalin ám sát thì luật sư của tôi sẽ công bố ngay tất cả các tài liệu nói trên.
Tôi biết mình đang chơi một canh bạc rất nguy hiểm cho bản thân
và gia đinh, nhưng tôi tin rằng chừng nào Stalin còn chưa chắc chắn là tôi đã mất
khả năng công bố tội trạng của ông thì ông ta còn chưa trả thù tôi ngay.
Ngày 13/8/1938, ba chúng tôi đặt chân đến nước Mỹ bằng visa ngoại
giao do cơ quan đại diện Mỹ tại Ottawa cấp. Tôi đưa ngay luật sư của mình đến
Washington gặp Ủy ban Ngoại kiều, tuyên bố cắt đứt mọi quan hệ với Chính phủ
Liên Xô và xin tị nạn chính trị tại Mỹ.
Sau đó, cuộc truy sát tôi lập tức được mạng lưới dầy đặc gián điệp
bí mật của Yezhov và về sau là Beria tiến hành và kéo dài trong 14 năm liền.
Tôi thoát chết được là nhờ khả năng nhạy bén dự đoán tình hình và kịp thời có đối
sách; ngoài ra cũng là nhờ lòng dũng cảm của vợ con tôi. Trong suốt thời gian
trên, tôi không liên lạc gì với hai bà mẹ của mình cũng như với các bạn bè ở
Liên Xô, nhằm tránh gây ra cho họ những điều đáng tiếc.
Đầu năm 1953, sau khi đoán chắc là hai bà mẹ của tôi đã quy
tiên, vợ chồng tôi bàn bạc và quyết định cho xuất bản cuốn sách này. Tháng Hai,
tôi bắt đầu thảo luận với Ban Biên tập tạp chí LIFE về việc cho đăng thử vài
chương trong cuốn sách. Công việc đang dở dang thì Stalin qua đời.
New York, tháng Sáu năm 1953
Dịch theo Ba vụ xử án lớn tại Moskva làm rung chuyển thế giới, bản
tiếng Trung Quốc.
————–
[1] Alexander Mikhailovich Orlov (Александр Михайлович Орлов
1895-1973, người Belarus gốc Do Thái) là cán bộ cấp cao của Tổng cục An ninh quốc
gia (KGB), năm 1938 trốn sang Mỹ nhằm tránh bị Stalin thanh trừng. Năm 1965 KGB
xác nhận là Orlov không phản bội tổ quốc Xô Viết. (xem: – Alexander Orlov: The
FBI’s KGB General của Edward P. Gazur. – Số phận người Tổ trưởng Tình báo buộc
phải bỏ trốn đăng trên An ninh thế giới ngày 2/1/1997). Cuốn Deadly Illusions:
The KGB Orlov Dossier Reveals Stalin’s Master Spy cho biết năm 1969 và 1971,
KGB đã bí mật gặp Orlov, mời ông trở lại Moscow như một anh hùng. Bài trên đây
là phần Thay Lời tựa (tiêu đề Tôi ngửa bài với Stalin) trong hồi ký của Orlov:
The Secret History of Stalin’s Crimes (Random House, 1953. Bản Trung văn là Ba
vụ xử án lớn tại Moskva làm rung chuyển thế giới) tố cáo ba vụ án oan lớn do
Stalin tiến hành (trong đó có vụ ám sát Kirov – chúng tôi sẽ giới thiệu sau).
[2] Chính phủ của Mặt trận bình dân Tây Ban Nha, thành lập tháng
4/1931, đại diện cho lực lượng dân chủ, tiến bộ, bị các thế lực dân tộc chủ
nghĩa và phát xít, bảo hoàng chống lại. Tháng 6/1936, tướng Francisco Franco
làm đảo chính, gây ra cuộc nội chiến giữa chính phủ (phe cộng hòa) với phe quốc
gia của Franco. Phát xít Đức, Ý cho quân giúp Franco. Liên Xô gửi vũ khí và
tình nguyện quân tham gia Lữ đoàn quốc tế chống Franco. Ngày 8/3/1939 Franco
chiếm Madrid, thành lập chính phủ độc tài thống trị Tây Ban Nha cho tới khi chết
(1975).
[3] Ba Bộ trưởng Bộ Nội vụ Liên Xô Zagoda, Yezhov và Beria cuối
cùng đều bị chính phủ Liên Xô xử tử, trong đó Zagoda, Yezhov bị xử dưới thời
Stalin.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét