Chủ Nhật, 30 tháng 5, 2021

Tài liệu thuyết minh về văn hóa Chăm tại Việt Nam (phần 1)

 Tài liệu thuyết minh về văn hóa Chăm tại Việt Nam (phần 1)

Người Chăm, trong bức tranh văn hóa Việt Nam là một trong những nét vẽ đặc sắc và nổi bật nhất làm tôn lên vẻ đẹp của Văn hóa Việt Nam. Việc nghiên cứu văn người Chăm là cần thiết đối với các ngành khoa học xã hội, góp phần vào sự bảo tồn cũng như phát triển văn hóa của dân tộc. Trong số những ngành nghề tham gia kinh tế gắn liền với văn hóa có ngành Du lịch ở Việt Nam. Đối với nhiều hướng dẫn viên du lịch, việc nghiên cứu và trang bị kiến thức về người Chăm là cần thiết vì tính bức thiết trong sự nghiệp phát triển năng lực cá nhân cũng như năng lực của toàn ngành.

 

Tuy nhiên, một bộ phận Hướng dẫn viên vì nhiều lý do, từ khách quan đến chủ quan, hiện chưa được trang bị đầy đủ kiến thức từ cơ bản đến chuyên sâu về dân tộc Chăm ở Việt Nam, thậm chí nguồn thư tịch hoặc kiến thức mà họ tiếp nhận được còn nhiều thiếu sót thiếu như không muốn nói là “sai quan điểm” hoặc sai nhận thức, dẫn đến việc cung cấp thông tin cho khách du lịch bị lệch lạc.

 

Hơn thế nữa, về yếu tố địa lý, dân tộc Chăm đã từng sinh sống trải dài trên dãi đất miền Trung Việt Nam từ rất lâu đời, và ngoại vi không gian văn hóa chịu ảnh hưởng bởi văn hóa Champa còn phổ rộng đến tận khu vực Tây Nguyên, do đó những di tích lịch sử từ vật chất đến phi vật chất vẫn còn tồn tại trên vùng này rất nhiều, cho nên việc trang bị kiến thức về dân tộc Chăm và vương quốc Champa thật sự sẽ mang lại những chuyên đề thuốc minh sống động về bức tranh lịch sử phát triển của dân tộc.

 

Xuất phát từ niềm đam mê nghiên cứu về người Chăm và tình yêu nghề Hướng dẫn viên du lịch, cộng với quá trình khảo sát, bản thân tác giả nhìn thấy nhiều đồng nghiệp vẫn còn chưa vững vàng về người Chăm, đây là điều rất nguy hiểm, nên tác giả mạo muội kết tập lại tài liệu này, hầu mong sẽ giúp ích được cho tác giả cũng như nhiều đồng nghiệp tương lai.

 

Vì Champa là một đề tài rất rộng lớn, đã từng làm tiêu tốn nhiều giấy mực của các nhà nghiên cứu thuộc các chuyên ngành khoa học khác nhau, bản thân tác giả chỉ là bậc hậu sanh nên nghiên cứu mang tính kế thừa là chủ đạo chứ chưa có tham vọng sẽ mang đến điều gì to lớn. Có chăng tác phẩm này chỉ mang tính cóp nhặt và hệ thống để người đọc có thể triển khai những tiêu điểm kiến thức ấy bằng những trước tác uyên bác hơn của các học giả hàn lâm.

 

Trong giới hạn cả năng và thiển học của mình, bản thân tác giả cũng chỉ dám nhìn dân tộc Chăm bằng lăng kính của một chàng hướng dẫn viên nhỏ bé có tình yêu tha thiết về những trang sử hùng thiêng một thời vàng son, những luật tục và những nét văn hóa thấm đậm nét đẹp truyền thống, do đó, có lẽ nên tạm nói rằng tác phẩm nho nhỏ mà bạn đọc đang cầm trên tay, chỉ dừng lại dưới khía cạnh khái quát dưới góc nhìn của một người tham gia kinh tế du lịch mà thôi chứ không thể nào lột tả được tất cả mọi khía cảnh của dân tộc Chăm cũng như Vương quốc Champa được.

 

Người ta nói:

 

“Trời bình tịnh thoạt còn nổi gió

 

Trăng làu làu bổng trổ mòi mưa”

 

Cuộc sống mà không có gai chông thì không phải cuộc sống, đường đời nếu không có thiếu sót thì làm sao có thể trưởng thành. Trong quá trình soạn thảo quyển tài liệu bé nhỏ này, chắc chắn không thể không có thiếu sót, thật tâm mong quý độc giả bỏ qua cho, “Thương nhau lấy chín làm mười” nhưng “Giữa sông bỗng nổi nên cồn/ Nhờ nhiều hạt cát đắp dồn mới cao” chính sự góp ý của quý độc giả là nguồn đọc lực to lớn cho tác giả tiếp tục hoàn thiện bản thân cũng như hoàn thiện đứa con tinh thần này, để sau này, còn tiếp tục chỉnh biên cho những thế hệ đàn em có thêm nguồn tài liệu tốt hơn để bước vào nghề.

 

Tác giả xin thành kính tri ân và kính chúc quý độc giả nhiều sức khỏe.

 

Một số lưu ý:

 

Trong tác phẩm này sẽ sử dụng những phiên âm tiếng Chăm, nếu như phiên âm lại bằng tiếng La-tinh, tác giả xin theo phiên âm La-tinh quốc tế hiện đại, căn cứ trên Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê.

Nếu tác phẩm có phiên âm tiếng Chăm thuần chuẩn, tác giả sẽ phiên âm theo Từ điển Chăm – Việt – Anh của Sakaya.

Nếu trong tác phẩm có chứa ký tự chữ Chăm, tác giả sẽ chọn ký tự của chữ Akhar Thra Chăm (chữ Chăm hiện tại) trường hợp có các ký tự chữ Chăm cổ, hoặc chữ vay mượn nước ngoài như chữ Phạn, Skarit, Chữ Ả-rập, tác giả sẽ có sự chú thích riêng cho từng ký tự.

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 22 tháng 4 năm 2015

 

Thanh Hoàng cẩn bút.         

 

CHƯƠNG MỘT

 

TỪ HỒNG HOANG ĐẾN LẬP QUỐC

 

Người Chăm, một  trong 54 dân tộc ghép thành bức tranh dân tộc Việt Nam hiện nay chỉ sinh sống chủ đạo ở một số tỉnh thành nhất định chứ không còn sinh sống trải dài từ Quảng Bình vào đến Bình Thuận như ngày xưa nữa.

 

Theo các thống kê tạm thời, các nguồn thư tịch hiện đại đều thống kê rằng tổng dân số người Chăm trên toàn thế giới hiện nay ướm chừng con số 40 vạn người.

 

Mặc dù Việt Nam là vùng đất ngày xưa thành lập vương quốc của họ, nhưng hiện nay, cộng đồng dân cư Chăm lớn nhất không sinh sống ở Việt Nam mà là ở nước bạn Campuchia là đông nhất (khoảng 217.000 người) và đa số sinh sống tại tỉnh Kongpong Cham, một số ít người Chăm sinh sống rải rác  trên các tỉnh còn lại như Kampot, SeamRiep, Phnom Penh.

 

Trên lãnh thổ Việt Nam, người Chăm, với dân số khoảng hơn 145.000 người,  sinh sống trên địa bàn các tỉnh: Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Đồng Nai, Tây Ninh, Thành phố Hồ Chính Minh và An Giang, trong đó, họ tập trung đông nhất tại Ninh Thuận – Bình Thuận, An Giang và Thành phố Hồ Chí Minh.

 

Tuy nhiên, nếu như xem xét để tính tổng dân số người Champa thì chúng ta sẽ có con số khác, vì cư dân Champa là cư dân ngữ hệ Malayo-polineisn nên nếu xét những dân tộc thuộc chung ngữ hệ này thì Việt Nam vẫn là nơi sinh sống của nhiều người Champa hơn so với Vương quốc Campuchia. Trong bài thống kê này, tác giả hiệu cư dân Champa và người Cham là hai khái niệm biệt lập, trong đó người Chăm là một bộ phận chủ đạo cấu thành dân số Champa nhưng không phải hoàn toàn và duy nhất. Trong tác phẩm này, tác giả chỉ thống kê về người Chăm mà thôi.

 

Ngoài Việt Nam là vùng đất có đông người Chăm sinh sống thứ hai trên  toàn thế giới, thì xếp thứ ba là Malaysia với tổng dân số Chăm vào khoảng 15.000 người, ở Thái Lan cũng có khoảng 10.000 người Chăm đang cư trú tại đây, riêng nước như Anh, Pháp, Úc, Mỹ, Lào…vẫn có người Chăm sinh sống do quá trình di cứ mang yếu tố lịch sử và chính trị, trong đó  Liên Bang Hoa Kỳ có số lượng người Chăm đang sinh sống đáng kể (khoảng 5.000 người), cộng đồng người Chăm sống ở Lào chủ yếu tập trung tại Thủ đô Viêng-chăng do sự trốn chạy khỏi đế chế diệt chủng Pol Pot.

 

Tác giả để tiều đề chương là “Từ hồng hoang đến lập quốc” nhưng tại sao tác giả lại đi cân đo đong đếm số lượng người Chăm hiện tại làm gì?

 

Kính thưa quý độc giả, nếu quý độc giả vẽ lại bức tranh phân bố dân cư của người Chăm trên thế giới sẽ thấy những sự bất ngờ lớn lao và vì sao người Chăm định cư ở Campuchia nhiều như thế, đồng thời quý bạn đọc cũng sẽ thấy, tuy ở Việt Nam chúng ta, cộng đồng người Chăm sinh sống trải dài như thế, nhưng nhận thức của người Việt đối với người Chăm còn nhiều mơ hồ và phủ bóng lên người Chăm nhiều oan ức lịch sử mà suốt bao năm nay họ vẫn không ngừng cố gắng chứng minh sự trong sạch của mình. Chắc có lẽ ít nhất các bạn cũng đã từng nghe đâu đó những câu chuyện truyền miệng đồn thổi rằng có những người Chăm đi bán thuốc dạo, rồi bỏ bùa mê thuốc lú gì đấy để cướp tiền vàng của của người Việt? Hoặc đâu đó chỉ có những nhận thức hồng hoang rằng họ là những người tộc khác với người Thượng, sinh sống ở miền Trung và có phong tục tập quán khác với người Việt chúng ta, đó chỉ là những vệt đen mơ hồ trên giấy trắng để vẽ lại những nhận thức không đầy đủ về dân tộc Chăm ở Việt Nam chúng ta.

 

Cho nên, theo quan điểm của tác giả, việc đầu tiên để vẽ thêm những nhận thức mới về người Chăm, trước tiên, phải hiểu về danh xưng của dân tộc này cũng như thời hồng hoang, thuở sơ khai khi họ đặt bàn tay đầu tiên xuống nền đất mẹ mà nặn lên viên gạch tạo nên những Mỹ Sơn hoành tráng, những tháp Chăm uy nghi vẫn còn ngoài kia!

 

Định danh về dân tộc Chăm và Vương quốc Champa

Chăm là tên một nhóm dân cư lớn nhất và quan trọng nhất trong việc hình thành và phát triển của Vương quốc Chiêm Thành cũ (tức Vương quốc Champa, hay Chăm Pa), đồng thời người Chăm cũng là thần dân của vương quốc Chiêm Thành này, họ vừa tồn tại với tư cách là thần dân của Chiêm Thành, lại vừa chiếm số lượng đông đảo nhất, nên những ảnh hưởng về văn hóa – ngôn ngữ đã dẫn đến việc họ là chủ nhân chủ đạo cả gần như trọn vẹn nền văn minh Champa. Đồng thời người Chăm cũng đã từng sinh sống trên lãnh thổ Miền Trung Việt Nam từ rất lâu trước khi người Việt di cư tới đây.

 

Champa ban đầu là tên gọi của toàn bộ những nhóm dân tộc sinh sống trong vương quốc Chiêm Thành Cũ đó, và sau này trở thành tên gọi của một quốc gia phong kiến trung ương tập quyền theo thiết chế liên bang, cho nên: Champa là tên một quốc gia chứa dân tộc Chăm ở Việt Nam, ngoài Chăm, Champa còn là khái niệm dùng để chỉ cả những dân tộc thuộc nhóm “Thượng” ở khu vực Trường Sơn Tây nguyên có ngôn ngữ gốc Nam Đảo (Malayo-polynesien) hoặc cả Môn – Khmer.

 

Như vậy, khi gọi người Champa tức là nói đến rất nhiều tộc người, nhưng khi nói đến người Chăm, thì chúng ta hiểu rằng thuật ngữ này chỉ dùng để chỉ nhóm cư dân sinh sống ở duyên hải miền Trung theo ngữ hệ Malayo-poynesien mà thôi.

 

Cũng từ thuật ngữ này, chúng ta sẽ hiểu rằng Champa là một quốc gia đa tộc người trong đó cộng đồng người Chăm chiếm đa số và làm nên chủ thể chính của nên văn hóa Champa. Tuy nhiên sự đóng góp của những dân tộc thuộc nhóm “Thượng” theo ngữ hệ Malayo-polynesien vẫn hiện hữu rõ ràng.

 

Về nghĩa của từ Champa: Trong tiếng Hindi hiện tại, Champa (Phạn: चम्पा) có nghĩa là “người con của sự diệu dàng”, trong văn hóa Balamon, vị thần đại điện cho sự diệu dàng cũng chính là vợ của Đấng Shiva. Ngoài ra, Champa còn là tên của một loài hoa thuộc chi hoa đại, người Việt gọi là hoa sứ cùi, hoa có nhiều loại từ hồng đỏ cho đến màu trắng, mọc nhiều ở dọc biển Miền Trung, đồng thời loài hoa này cũng là quốc hoa của Đất nước Lào.

 

Chưa có tài liệu nào khẳng định chính xác được nguyên nhân vì sao người Chăm lại chọn tên một loài hoa để đặt tên cho quốc gia của mình, hoặc có phải chính người Chăm đã định danh tên quốc gia hay một dân tộc nào khác định danh giùm họ hay không[1], và tên này thông dụng từ khi nào. Chỉ biết rằng, chữ Champa đã được tìm thấy trên một bia ký có từ thế kỷ thứ 6 tại Mỹ Sơn, viết bằng chữ Phạn (Sanscrit là चम्पा). Trước đó, trong bộ Geographica năm 150 sau công nguyên, Claudius Ptolémée (90-168), nhà địa lý gốc Hy Lạp và là sứ giả của Hoàng đế La Mã Marc-Aurèle Antonin tại Alexandrie (Ai Cập), đã có lần nói tới một xứ tên Zamba trên vùng Viễn Đông. Sách Tân Đường thư, do Âu Dương Tu và Tổng Kỳ biên soạn thế kỷ 10, phiên âm là Chiêm Bà khi nói về Hoàn Vương Quốc (vương quốc Lâm Ấp cũ). Về sau Champa được người Việt biết qua tên phiên âm Hoa ngữ là Chiêm Thành (Tchan-tcheng 占城).

 

Như vậy, từ việc gọi Champa thành Chiêm Thành, thì thuật ngữ  “người Chăm” cũng được người Việt gọi là  “người Chiêm”, những trận chinh phạt lãnh thổ Champa của Đại Việt cũng được gọi là cuộc chiến “Bình Chiêm”. Ở cấp độ thế giới, khi nhạc hoàng triều Chăm được lồng vào âm nhạc hoàng gia Nhật Bản khi xưa cũng được gọi là Nhạc Chiêm Nhân hoặc nhạc Lâm Ấp. Gốm của người Chăm ở Nhật Bản cũng được gọi là Gốm Chiêm Nhân[2] ở tại Nhật Bản thể hiện danh xưng thứ hai của người Chăm là Chiêm. Tuy nhiên, danh từ Chiêm này thường được nhắc trong sử sách mang tính bác học hoặc các tài liệu mang tính nghiên cứu nhiều hơn, trong dân gian ít thấy ai gọi người Chăm là người Chiêm, hay Chiêm Thành cả.

 

Ngoài ra, người Việt còn sử dụng từ Chàm để nói về người Chăm, có thể đây là sự trại âm của từ Champa mà có. Hiện nay, một số danh từ vẫn còn gắn chữ “Chàm” vào địa danh , điển hình như: Thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, trung tâm tỉnh lị của tỉnh Ninh Thuận, Cù Lao Chàm ở Quảng Nam, trước năm 1975 còn có các địa danh như Ma Lâm Chàm, Phan Lý Chàm…

 

Kế tiếp địa danh Chàm, người Việt còn gọi người Chăm là người Hời: Có hai giả thuyết giải thích cho danh xưng này:

 

Giả thuyết thứ nhất: Hời, xuất phát từ chữ H’roi, ý nói người Hơ-roi, là một

bộ phận thần dân Champa ngày xưa di tản lên vùng Tây Nguyên tránh loạn rồi định cư luôn tại đây, họ vẫn còn giữ ngôn ngữ và một số phong tục tập quán của người Chăm đồng bằng trong những sinh hoạt thường nhật. Ngoài ra còn phải kể thêm những nhóm Bahnar Chăm, Bru-Vân Kiều, Kaho, Raglai, Rhadé, Djarai, Stiêng, Churu v.v…, tất cả đều là thần dân của vương quốc Chiêm Thành cũ di tản lên cao nguyên trong những giai đoạn loạn lạc rồi ở luôn tại đây. Trên khắp cao nguyên, những nhóm người mới hòa nhập và pha trộn với các nhóm người cũ tạo thành những sắc dân hỗn hợp mang hai dòng máu Chăm-Thượng trong những thời điểm khác nhau. Người Chăm lai Thượng gọi là Chăm Pal, nhưng người Việt ít biết đến tên này. Vì không có truyền thống đặt tên cho từng nhóm người, dân chúng gốc Kinh gọi chung tất cả những cư dân sinh sống trên miền núi phía Tây là người Hroi, sau đó biến âm thành người Hời.

 

Chữ Hời mang một nội dung xấu, đó là những nhóm man di chuyên đi cướp bóc, vì trong quá khứ người Hroi đã nhiều lần tiến công vào các làng xã người Kinh cướp bóc lương thực, trong những giai đoạn khó khăn, dưới thời các chúa Nguyễn. Sau này người Chăm tại Thuận Hải gọi những cư dân gốc Chăm sinh sống tại các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định là Chăm Hoi hay Chăm Hroi. Sử sách Việt Nam thời Nguyễn gọi chung là Mọi Đá Vách.

 

Ngoài ra cũng có một số người Chăm lai Việt gọi là Chăm Yuôn (Yuôn hay Yun hoặc Yuen có nghĩa là người Việt). Người Việt gọi là Kinh Cựu, nhưng danh xưng này rất ít người biết đến vì người Kinh Cựu luôn tự nhận mình là người Kinh. Cũng nên biết những binh sĩ hay tội đồ gốc Kinh, bị đày ra vùng biên địa giáp ranh với Chiêm Thành, đã lập gia đình với những phụ nữ Chăm (mà họ cho là người Kinh cổ xưa), từ đó mới sinh ra chữ Kinh Cựu.  Trong văn học Việt Nam, chữ “Hời” này được nhà thơ Chế Lan Viên có nhắc  đến vào năm 1937 trong tập thơ Điêu Tàn nổi tiếng.

 

Giả thuyết thứ hai: Người Chăm tự gọi mình là người Hời, khi sinh sống ở

vùng Phan Thiết – Bình Thuận, xung quanh ngọn tháp Po Sha-Inư, họ lập nên những vùng phố xá đông đúc gọi là Khu Phố Hời, nên tháp ấy còn có tên là Tháp Phố Hời, sau này đổi thành Phố Hài. Tuy nhiên giả thuyết này bị đại đa số người Chăm lẫn người Việt bác bỏ.

 

Hướng dẫn viên du lịch nên chọn tên nào để thuyết minh: hiển nhiên rằng chúng ta phải chọn tên “Chăm” để thuyết minh. Một số ít hướng dẫn viên chọn tên Chàm để thuyết minh về dân tộc này, bản thân người Chăm cũng có một số ít những nhà nghiên cứu theo trường phái thủ cựu[3] như Inrasara, Po Dharma…vẫn thích tự gọi dân tộc mình là “Chàm”, tuy nhiên, dưới góc nhìn của tác giả, hướng dẫn viên du lịch nên hạn chế, và tốt nhất là tránh đi tên này, hiển nhiên tên “Hời” như trên đã nói, nó mang ý nghĩa xấu nên chúng ta không dùng để định danh, vậy từ “Chàm” mang ý nghĩa xấu như thế nào mà tác giả khuyên chân thành rằng không nên dùng.

 

Về danh từ: Chàm là tên một loài cây bụi thuộc họ đậu, thân mọc thấp, người ta dùng để lấy màu làm thuộc nhộm.

 

Ngoài ra, Chàm còn là tên một loại bệnh ngoài da thường thấy ở vùng nhiệt đời do việc vệ sinh, dị ứng, di truyền và cơ địa gây ra.

 

Về mặt tính từ: Chàm dùng để nói một quá khứ đen tối, phạm tội nào đó mà hiện tại rất khó được xã hội chấp nhận, cũng ví như tay nhúng thuốc nhộm màu chàm rất khó rửa ra.

 

Nguyễn Du có nhắc về việc Thúy Kiều từng ở thanh lâu rằng:

 

“Trót vì tay đã nhúng chàm

 

Cỏ phai màu áo nhuộm non da trời”

 

Như một cách để nói về quá khứ bi thương của Thúy Kiều “Thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần” đầy nhớp nhơ đó.  Đồng ý rằng từ “Chàm” còn có một nét nghĩa tốt, dùng để chỉ những người phụ nữ Việt chân lấm tay bùn, lam lũ bên đồng ruộng tảo tần, để thể hiện sự cần cù chịu thương chịu khó, như Tố Hữu nhắc:

 

“Áo chàm đưa buổi phân ly

 

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay[4]”

 

Tuy nhiên, giữa một thuật ngữ mà mang đến 3 nghĩa xấu mà một nghĩa tốt, thì về mặt nhân văn, chúng ta nên hạn chế sử dụng, hoặc tốt hơn hết là nên tránh sử dụng vẫn sẽ hay hơn. Huống chi nghề của mình liên quan đến việc truyền tải và chia sẻ kiến thức, những nhận định và ý kiến đánh giá của chính người hướng dẫn viên du lịch sẻ ảnh hưởng đến quá trình tri nhận của  rất nhiều khách du lịch mà chúng ta đang dẫn. Do đó, trên quan điểm thiển học của tác giả, tác giả xin mạo muội đề nghị quý anh, chị hướng dẫn viên du lịch không nên dùng những thuật ngữ mang ý nghĩa miệt thị để nói về bất cứ dân trộc nào cả, trong trường hợp này là người Chăm và thuật ngữ miệt thị “Chàm, Mọi Vách Đá, Mọi Hời, Chàm, Hời…”

 

Việc sử dụng từ “Chăm” là hợp lý, thứ nhất là phát âm đúng danh xưng do đại đa số người Chăm nhìn nhận “Urang Cam” – phát âm là “Rang Chăm (U trong Urang là âm gió nên phát âm nhẹ)” có nghĩa là  người Chăm, thứ hai là Vương quốc của họ cũng đọc là Vương Quốc Chăm – pa, thứ ba là định danh về dân tộc này chính thức được Ủy ban Dân tộc của Quốc hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam quy định là Người Chăm.

 

Do đó: hướng dẫn viên chỉ nên sử dụng thuật ngữ Chăm để thay thế tất cả những thuật ngữ có trước đó, nếu trong quá trình tác nghiệp, hướng dẫn viên  bắt buộc phải sử dụng những thuật ngữ khác thì việc giải thích thuật ngữ là cần thiết, tránh tình trạng miệt thị hoặc xúc  phạm ý thức tự giác tộc người.

 

Trong thực tế không có bộ tộc nguyên thủy nào có tên Chăm. Chăm chỉ là tên gọi của nhiều nhóm dân cư sau này chọn sinh sống trên lãnh thổ của vương quốc Champa hay Chiêm Thành cũ, gọi chung là người Chămpa, chứ không phải tên riêng của một nhóm chủng tộc. Sau này cộng đồng người Chăm đồng bằng chấp nhận danh xưng Chăm, và đồng hóa nguồn gốc Nam Đảo của mình với nền văn minh và văn hóa Chiêm Thành cũ, để phân biệt với các nhóm Chămpa khác xuất phát từ nhiều nguồn gốc ngôn ngữ và chủng tộc khác nhau. Có thể nói vương quốc Chiêm Thành xưa kia là một liên bang đa chủng và đa văn hóa.

 

Về ngôn ngữ, người Chăm được nhiều nhà nhân chủng học xếp vào họ Nam Đảo (Malayo Polynésien), nghĩa là có nguồn gốc xuất phát từ các hải đảo phía Nam vùng biển Đông Nam Á. Điều này có thể đúng khi đối chiếu văn minh, văn hóa của người Chăm với văn minh, văn hóa của các dân tộc cùng hệ ngôn ngữ tại Đông Nam Á vào thời tạo dựng. Nhưng qua những khám phá khảo cổ gần đây, văn minh và văn hóa của người Chăm tại Việt Nam không hoàn toàn do ngoại nhập mà có sự pha trộn yếu tố văn minh và văn hóa của những nhóm cư dân bản địa có mặt từ trước đó.

 

Hồng hoang, di cư, định cư và xác lập lãnh thổ thị tộc bộ lạc:

Nhắc đến hai từ “hồng hoang” là nhắc tên hai từ ghép Hán tự của “hồng mông” và “hoang dã”. Hồng mông theo như triết học phương Đông, là  một dạng khí hóa có trước cả Vô Cực trong Kinh Dịch. Còn hoang dã là nhắc đến xã hội tối cổ khi con người vừa đi rời xa xã hội vượn người để phát triển thành người.

 

Hồng hoang, theo quan niệm của tác giả là thời kỳ nguyên thủy nhất, chưa có sự tác động của chính trị vào xã hội của một thị tộc nào đó. Việc nghiên cứu xã hội hồng hoang phải gắng liền với nghiên cứu di chỉ khảo cổ học mà thôi, bởi xã hội hồng hoang chưa có văn tự, có chăng là những dạng chữ viết cổ đại mà chúng ta cũng chỉ có thể “đoán ý qua hình” mà thôi. Bằng sự phát triển của Khảo Cổ học, với những công nghệ khảo cổ hiện đại như phương pháp C14[5]cùng nhưng phương pháp nghiên cứu đồng vị phóng xạ khác, bên cạnh nghiên cứu văn tự và di chỉ, các nhà Khảo cổ học đã cung cấp thêm nhiều bằng chứng lịch sử về sự tồn tại của cư dân tổ tiên Champa.

 

Hiển như sử sách Champa gồm các văn bản hoàng triều Champa đến những văn bản của Đại Việt, sử cũ của Trung Hoa như Đương Thư, Lương Thư đều khu  biệt vương quốc Champa nằm trên vũng Quảng Bình – Bình Thuận, và chưa có văn bản nào nhắc đến sự di cư của tổ tiên Chăm, nên chắc chắn rằng họ phải có mặt ở đâu đó sớm hơn việc hình thành quốc gia.

 

Năm 1909,  nhà Khảo cổ học người Pháp tên là M.Vinet đã phát hiện bên đầm An Khê, một đầm nước ngọt ở Sa Huỳnh, Đức Phổ, Quảng Ngãi, khoảng 200 chiếc quan tài bằng chum, người ta gọi đây là Di chỉ Kho chum Sa Huỳnh. Liên tục nhiều năm sau đó, bằng việc khảo sát và khai quật trên địa bàn Huyện Đức Phổ bây giờ, các nhà Khoa học đã xác định một nên văn mình rất lớn không chỉ nằm trên địa bàn Sa Huỳnh mà còn trãi dài từ Quảng Bình vào đến Phú Yên, những nền văn minh này phát triển rực rỡ bên cạnh những dòng sông dọc theo ven biển Miền Trung. Theo nguyên tắc đặc tên của Khảo cổ học, người ta lấy tên Sa Huynh để đặt tên cho nền văn hóa ấy, và gọi là Văn hóa Sa Huỳnh.

 

Nền văn hóa Sa Huỳnh đã đư­ợc các nhà khảo cổ trên thế giới nghiên cứu từ đó đến nay và ngày càng sáng tỏ nhiều điều về đời sống của các tộc ngư­ời thời tiền sơ sử ở miền Trung Việt Nam. Xuất hiện cách nay khoảng 3.000 năm và kết thúc vào thế kỷ thứ 1, văn hóa Sa Huỳnh có lẽ đã tồn tại hơn 3.000 năm kéo dài từ thời hậu kỳ đồ đá mới đến đầu thời đại đồ sắt trên địa bàn các tỉnh từ Quảng Bình đến các tỉnh nam Trung bộ và Tây Nguyên. Với một sức sáng tạo mạnh mẽ và phong phú, văn hóa Sa Huỳnh càng ngày càng thấy có sự ảnh hưởng và giao lưu với nhiều vùng Đông Nam Á và Trung Hoa cổ xưa và Ấn Độ cổ xưa khi gần đây, Viện Khảo cổ học Quốc gia Đức hợp tác với các nhà khảo cổ học khoa Lịch sử của Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, tiến hành khảo cứu trong các năm 2004-2005 tại một số vùng thuộc tỉnh Quảng Ngãi. Bước đầu đã xác định được diện mạo một nền văn hóa đặc sắc ở Miền Trung Việt Nam.[6]

 

Cũng từ việc nghiên cứu di chỉ khảo cổ, dựa vào nét tương đồng về niên đại và hoa văn di chỉ, các nhà Khảo cổ học đã tìm thấy nét tương quan và con đường di cư của tổ tiên văn hóa Sa Huỳnh từ các vùng Đông Nam Á hải đảo vào Đông Nam Á lục địa.

 

Căn cứ theo cách tính thế hệ của Hồ Trung Tú thì ít ra những người Sa Huỳnh cũng có mặt trên lãnh thổ Việt Nam chúng ta từ trước đây 3025[7] năm. Có lẽ 25 năm không đáng gì so với lịch sử vài nghìn năm cả, huống chi bản thân phương pháp đồng vị phóng xạ cũng đã có sự sai sót đến hàng trăm năm kia mà, nên con số 25 năm của nhà nghiên cứu Hồ Trung Tú thật sự quan trọng trong việc tính phả hệ nhưng trong Khảo cổ học, phương pháp này chưa thật sự hiệu quả, dù có bỏ qua con số 25 năm này thì  điều đó cũng chứng minh rằng tổ tiên của người Sa Huỳnh – mà các nhà khoa học đều nhìn nhận người Sa Huỳnh là tiền thân của người Champa – đã đi từ vùng Borneo  vào miền Trung Việt Nam ít nhất đã hơn 3000 năm về trước. Đây là luận cứ mạnh mẽ để chứng minh quá trình di cư của người tiền Champa[8] vào Việt Nam.

 

Vậy người tiền Champa đã đi đến những đâu và thành lập nên những thị tộc nào?

 

Theo các tài liệu của các giáo sư Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Ngô Văn Doanh, vùng lãnh thổ Champa sau này được miêu  tả với hai khu vực lớn và hai nền văn hóa có nhiều điểm tương đối khác biệt, do hai bộ tộc khác nhau làm chủ nhất, lấy Cù Mông làm ranh giới lãnh thổ của hai bộ tộc đó.

 

Bộ tộc ở nam đèo Cù Mông được tạm gọi là bộ tộc Cau, phía bắc Đèo Cù Mông được gọi là bộ tộc Dừa.

 

Việc phân định thị tộc này chứng tỏ địa bàn cứ trú tập trung của nhưng cư dân tiền Champ vào thời  sơ kỳ  lập quốc đã có sự phân vùng tập trung nhất định, quá trình ngăn sông cách núi của dãy Cù Mông đã làm phân chia tộc người rõ nét tạo ra những tín ngưỡng Totem khác nhau giải thích nguồn cội tộc người khác nhau, chưa có tài liệu chứng minh cộng đồng Nam Cù Mông có trước hay cộng đồng Bắc Cù Mông có trước. Tuy Nhiên, dù họ có tự nhận họ thuộc hai tộc người khác nhau đi chăng nữa, hoặc do sự khảo cổ các thư tịch nằm trên bia đá Võ Cạnh mà các giáo sư phân chia người tiền Champa thành hai bộ tộc như thế  đi chăng nữa, thì nên hiểu hai bộ tộc này như thế nào?

 

Chúng ta cũng hiểu lịch sử Bách Việt là  sự liên minh các thị tộc và bộ lạc dòng Việt, cũng như sự hình thành Champa là liên minh các thị tộc và bộ lạc tiền Champa mà có. Tuy nhiên, sự đặc trưng của liên minh các thị tộc tạo ra hai đại tộc là Cau và Dừa này thật ra chỉ là do qua trình chia tách địa lý tạo nên hai vùng chuyên biệt và nên con đường vận động và phát triển văn hóa của họ đi theo hai con đường riêng mà thôi. Rất may mắn là quá trình phát triển chuyên biệt ấy chưa phát triển cao đến mức độ tạo ra quá nhiều sự khác biệt giữa hai vùng cho nên việc liên minh lại với nhau để thành lập một giốc gia thống nhất có chính thể cũng thuận lợi hơn.

 

Về mặt nhân chủng, dù người Chăm Cau hay Chăm Dừa gì thì họ cũng là người Chăm, các nghiên cứu khảo cổ và nhân chủng chứng minh họ có chung một nguồn gốc nhân chủng học, ngôn ngữ cũng đồng nhất, cho nên hai bộ tộc này không mang ý nghĩa là hai bộ tộc theo cách hiểu của Nhân học, mà  cụm từ “bộ tộc” này chỉ là từ phiếm chỉ để ta hiểu trước khi có quốc gia thống nhất, trên toàn  vùng  miền Trung có hai nhóm Chăm có đôi nét khác nhau về văn hóa và lấy đèo Cù Mông là ranh giới phân chia hay cũng có thể hiểu là có hai dòng họ hùng mạnh nhất ở hai vùng này, và hai cai quản hai vùng riêng biệt với hai Totem khác nhau nên bị ngộ nhận là hai bộ tộc khác nhau. Theo quan điểm của tác giả, nếu lấy các tiêu chí phân chia của  những vị giáo sư kể trên để đi phân chia tộc người Chăm thành các thị tộc, thì riêng sử thi Champa cũng đã kể đến hàng trăm Totem của những dòng họ lớn trên lãnh thổ của họ rồi. Có chăng nên nhìn nhận lại thế nào mới là thị tộc theo cách hiểu dành riêng dành cho người Chăm.

 

Riêng quan điểm cá nhân của tác giả, việc lấy đèo Cù Mông làm ranh giới tự nhiên của Chăm Cau và Chăm Dựa căn cứ trên tín ngưỡng thờ vật tổ khác nhau thì nhận định họ thuộc hai bộ tộc khác nhau vẫn chưa thuyết phục hoàn toàn, tác giả tạm gọi có hai dòng họ lớn trong hai vùng Chăm này, hai dòng họ này cùng một dân tộc, chung nhân chủng và ngôn ngữ, trong giai đoạn đầu đã phát triển theo hai xu thế vận động riêng rồi sau đó hợp nhất là để trở thành một quốc gia Champa thống nhất để hùng mạnh hơn.

 

Tại sao lại có Chăm Cau và Chăm Dừa? Hay con gọi là Nam Chăm và Bắc Chăm:

 

Theo truyền thuyết, các dòng vương tôn cầm quyền tại Chiêm Thành đều xuất thân từ hai dòng họ lớn. Mỗi dòng họ lấy một vật tổ (totem) làm biểu tượng. Dòng vương tôn ở phía Nam lấy cây Cau (Kramukavansa) làm biểu tượng, những nhà nghiên cứu gọi là chi bộ, bộ tộc hay thị tộc Cau. Dòng vương tôn ở phía Bắc lấy cây Dừa (Narikelavansa) làm biểu hiệu, gọi là chi bộ, bộ tộc hay thị tộc Dừa. Chỉ những truyền nhân xuất thân từ hai dòng họ này mới được công nhận lên ngôi vua, tức phải thuộc đẳng cấp Brahman và Ksatriya. Những người dân thường, cho dù có tài giỏi hay anh dũng đến đâu cũng không được công nhận là vua nếu không chứng minh có liên hệ huyết thống đến hai dòng họ này, tức phải do một phụ nữ mang dòng máu vương tôn sinh ra.

 

Trong lịch sử Chiêm Thành, nhiều người xuất thân là dân thường phải biện hộ có thần linh yểm trợ để lên ngôi vua như Phạm Văn (nguyên là một người chăn dê gốc Hoa), Lưu Kỳ Tông (một người Việt muốn lên làm vua nhưng không được dân chúng tuân phục) hay nhiều vị tướng khác sau khi đã hạ đối thủ chính trị.

 

Thật ra người dân thường khó giữ được ngôi cao trong xã hội Chiêm Thành vì không bao giờ có cơ hội, hơn nữa những người thuộc giai cấp vương tôn, đặc biệt là giới vương tôn nữ phái, chỉ lập gia đình với những dòng vương tôn với nhau, do đó không có những cuộc hôn nhân không môn đăng hộ đối và ít có những cuộc hôn nhân dị chủng, dị giáo. Phụ nữ quí tộc Chăm chỉ chọn chồng cùng đẳng cấp, đa số cung phi của các vua Chiêm Thành đều xuất thân từ các gia đình quí tộc. Khi một vua Champa cưới một người vợ ngoại quốc, ông ta chỉ có thể lập gia đình với con gái của những vua chúa thuộc các vương triều khác, chứ không thể lấy một người thường dân.

 

Xã hội Chiêm Thành tuy theo chế độ mẫu hệ nhưng lại phụ quyền. Trong gia đình, người đàn bà, gọi là Mẹ cả, đảm nhiệm vai trò chọn người kế thừa, bàn thảo tương lai con cái, chọn chồng cho con gái, đứng ra cưới hỏi, gìn giữ bàn thờ tổ tiên, giữ gìn hương hỏa. Ngoài xã hội, người đàn ông có toàn quyền quyết định việc canh tác, giao thiệp và buôn bán, nhưng chỉ người con trai hay đàn ông nào được sinh ra bởi một người mẹ thuộc dòng quí tộc mới được chấp nhận làm vua hay giữ vai trò cao trong triều đình.

 

Tài liệu cổ và truyền thuyết Chăm cho biết truyền nhân của những dòng họ vị vua cai trị vương quốc Champa là hai vị nữ thần được sinh ra bởi nữ thần Sakti Bhagavati, vợ của Siva: Visitrasaga cho các vua phía Nam và Uroja cho các vua phía Bắc. Chỉ những người mang dòng máu từ những phụ nữ này mới được giữ những địa vị cao và nắm giữ vai trò lãnh đạo, con cháu của họ có thể là những người sinh sống tại đồng bằng hay trên miền núi.

 

Hình tượng Linga (bộ phận sinh dục tượng trưng cho sức mạnh của phái nam, biểu tượng của khả năng tái tạo) tượng trưng cho thần Siva (nam tính) hiện thân qua nữ thần Uroja. Hình tượng Yoni (cơ quan sinh sản của phái nữ, biểu tượng của khả năng dưỡng dục) tượng trưng cho nữ thần Bhagavati (nữ tính) hiện thân qua nữ thần Visitrasaga. Uroja còn được gọi là thần Núi, Visitrasaga là thần Biển. Tượng Uroja được xây dựng trên các triền núi ở phía Bắc, tượng nữ thần Bhagavati được tôn thờ nhiều trên những vùng bình nguyên phía Nam, cạnh các bờ biển. [Vị thần bảo vệ vương quốc Nam Chiêm Thành là nữ thần Yan Po Nagar (Bà Mẹ Đất Nước hay Thiên Y Thánh Mẫu)]. Chính những phân chia dòng tộc Nam và Bắc này mới nảy sinh ra huyền thoại về các bộ tộc Cau và Dừa.

 

Về bộ tộc Cau, theo truyền thuyết, vào thời xa xưa một vị vua cai trị phương Nam một hôm thấy bên cạnh cung đình có một cây cau trổ một buồng trái thật lớn và thật đẹp. Đến ngày trổ hoa, buồng cau không nở, nhà vua thắc mắc liền sai một gia nhân trẻ tuổi trèo lên hái xuống xem sao. Gia nhân mang xuống dâng lên vua. Vua lấy gươm báu chẻ mo cau ra thì thấy một em bé mặt mũi hồng hào đẹp đẽ. Nhà vua rất vui mừng, nhận làm con nuôi và đặt tên là Radja Po Klong, tức hoàng tử Po Klong (Po Klău). Mo cau bọc hoàng tử được dùng làm mộc đỡ của hoàng gia và mũi nhọn của mo cau được biến thành gươm báu của nhà vua. Mộc đỡ và gươm báu sau này trở thành biểu tượng cho uy quyền của các vị vua Chiêm Thành phía Nam.

 

Hoàng tử Po Klong không chịu bú sữa của người thường mà chỉ bú sữa của một con bò tơ ngũ sắc. Đó cũng là lý do giải thích tại sao người Chăm ở phía Nam sau này từ chối giết và ăn thịt bò. Hoàng tử Po Klong càng lớn lên càng đẹp và khỏe mạnh. Nhà vua sau đó gả con gái và cho kế nghiệp. Khi lên ngôi, Po Klong cho xây một cung thành tuyệt mỹ trải rộng trên bảy ngọn đồi, đặt tên là Băl.

 

Băl sau này là thủ đô của các tiểu vương quốc Champa theo tiếng “Chăm mới”, như Băl Cău ở Phan Rang, Băl Canar ở Phan Rí (thôn Tịnh Mỹ) của bộ tộc Cau. Chuyện bò ngũ sắc là dựa theo truyền thuyết Bò Thần của đạo Bà La Môn bên Ấn Độ, ý muốn nói bò là một vị thần, dân chúng phải tôn thờ không được ăn thịt hay sử dụng phó sản của bò để tỏ lòng tôn kính thần linh.

 

Về bộ tộc Dừa, các dòng vương tôn phương Bắc cũng dựa theo truyền thuyết trên để tạo sự huyền bí về dòng dõi vương quyền của mình, nhưng đổi buồng cau thành buồng dừa và mo cau thành mo dừa. Theo lời kể lại, một vị hoàng tử được sinh ra từ một mo dừa, làm con nuôi một vị vua, lấy một cô công chúa và sau đó được tôn lên làm vua. Không rõ vị vua này tên gì, các nhà nghiên cứu Chăm học và khảo cổ chưa tìm ra sử tích.

 

Thật ra, các dòng vương tôn phía Bắc, vì chịu ảnh hưởng muộn màng nền văn minh Ấn Độ, phải tìm trong kho tàng dân gian một câu chuyện huyền bí đề cao dòng tộc vương quyền của mình để tỏ ra ngang hàng với các dòng vương tôn phía Nam. Tuy nhiên, do chịu nhiều ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa lúc ban đầu, thay vì phải thờ vật tổ (cây Cau hay Bò Thần) như người phía Nam, người Chăm phía Bắc đề cao cây Dừa như một biểu tượng huyền bí của uy quyền – như người Hoa đề cao con rồng hay con phượng. Hơn nữa, vật tổ của người Chăm phương Bắc không mang ý nghĩa tôn giáo mà chỉ thuần túy là một biểu tượng. Tượng mà người Chăm miền Bắc tôn thờ là Buddha, Siva và các vị thần Ấn Độ khác. Một vị vua làm được nhiều tốt cho dân chúng, khi chết đi được dân chúng tạc tượng và lập đền thờ tôn kính như một vị Phật. Tên vị vua quá cố thường được kết hợp với tên thần Isvara (tức Shiva), do đó tên sau cùng của các vị vua quá cố thường có thêm chữ “vara” (như Bradresavara, Sambhudresavara) để thần thánh hóa ngôi vị của mình, vua là do thần sai xuống cai trị dân gian.

 

Qua sự phân chia này, trong suốt dòng lịch sử của vương quốc cổ Champa, các bia ký ghi lại rất nhiều tranh chấp giữa hai bộ tộc về quyền lãnh đạo, không bộ tộc nào chịu nhường bộ tộc nào. Bộ tộc Dừa bị coi là bộ tộc bình dân (không tinh khiết) thường bị các dòng vương tôn bộ tộc Cau (tự nhận là truyền nhân chính thống) khinh thường. Tuy nhiên vì quyền lợi của đất nước, nhiều lúc hai bộ tộc này đã biết kết hợp lại với nhau thành một để đối phó với kẻ thù chung[9].

 

Theo nhận định của Lương Ninh, sự phát triển đồng thời và độc lập đã thành lập nên hai tiểu quốc Khu vực với tên là Panduaranga với hai vùng là Kautahara và Panduranga, tiểu quốc Bắc Chăm phát triển thành một vùng lãnh thổ riêng, trong lịch sử sóng đôi, Bắc Chăm chịu sự đô hộ của Phương Bắc cho đến thế kỷ thứ hai sau công nguyên thì Karung tức Khu Liên đã lãnh đạo nhân dân Bắc Chăm khởi nghĩa giành chính quyền tạo nên một quốc gia riêng mang tên gọi là Lâm Ấp[10].

 

Lâm Ấp được sử sách nhắc tới nhiều hơn và làm chúng ta thiếu các thông tin để tìm hiểu Tiểu quốc Kauthara có những phát triển đặc sắc gì trong lịch sử từ khi tồn tại tộc người, cho đến TK II, qua giai đoạn này, sau khi Karung nổi lên giành chính quyền, chúng ta cũng không có nhiều dữ kiện lịch sử để chứng minh sự đóng góp của cư dân Nam Cù Mông với sự phát triển chung của Lâm Ấp. Tuy nhiên, từ việc định vị lãnh thổ, vùng Nam Cù Mông (có lẽ được sinh sống trong hòa bình nên sự phát triển văn hóa được thuận lợi hơn) gần hơn với thế giới văn hóa Ấn Độ, nên việc truyền chữ Phạn và Bắc Chăm chắc chắn là do công lao của dân xứ Panduranga, vì Tượng Lâm nằm trong vùng chịu sự chi phối của Văn hóa Chữ Hán (gần Trung Quốc) lại bị nhà Hán và nhà Triệu đô hộ thì người Chăm ở Lâm Ấp không thể chủ động đi mang tiếng Phạn vào vùng đất của mình được mà chắc chắn chữ Phạn phải được truyền từ Nam Chăm lên Bắc Chăm.

 

Cũng từ suy luận đó, chúng ta cũng suy ra được rằng việc Bắc Chăm theo đạo Balamon cũng là nhờ Nam Chăm, vì văn hóa chữ Phạn gắng liền với tôn giáo Balamon. Cho nên, dù lịch sử không nhắc nhiều đến Panduranga, nhưng những đóng góp của người Panduranaga với ngời anh em Lâm Ấp vẫn cứ âm thầm, lặng lẽ mà đầy ý nghĩa, và công việc này không được người ta biết đến nhiều, trãi qua hàng trăm năm, người Panduranga vẫn cứ miệt mài công việc truyền thụ thông tin và tri thức cho Lâm Ấp để cho  Lâm Ấp có thêm sức mạnh văn hóa mà cố gắng độc lập và thoát khỏi vùng Hán Hóa xâm lăng cho đến khi hai tiểu quốc này thống nhất làm một thì đỉnh cao của văn minh Champa cũng chính thức khẳng định những giá trị của mình.

 

Tạm chia tay Vùng Nam Chăm Panduranga, chúng ta sẽ gặp lại trong những phần sau, bây giờ chúng ta quay lại với quá trình lập quốc trong lịch sử Champa.

 

Nhắc đến lịch sử lập quốc, nên móng ban đầu của một quốc gia Champa xác lập chính thể là thời của Kurung hay Khu Liên, và chúng ta sẽ bàn giới hạn về các  vương quốc trước thời kỳ Champa, có nghĩa là lịch sử lập quốc của người Chăm trong giai đoạn đầu chỉ nhắc nhiều đến Bắc Chăm, cho nên phần này, khi tác giả nói đến các thuật ngữ như Lâm Ấp, Hoàn Vương cũng chỉ đến quá trình từ đấu tranh độc lập đến lập quốc của Bắc Chăm mà thôi.

 

Từ thị tộc bị đô hộ đến quốc gia độc lập – quá trình lập quốc:

Tượng Lâm là  địa bàn xác định bản thể đầu tiên của đất nước Champa sau này.

 

Rất khó xác định mốc thời gian để biết vương quốc cổ Chiêm Thành đã được hình thành từ hồi nào. Phần lớn những nhà khảo cổ và sử học đều đồng ý là vương quốc này xuất hiện vào đầu công nguyên, tức là thời gian người Chăm bắt đầu có chữ viết, chữ Phạn cổ. Nói như vậy không có nghĩa là trước đó người Chăm không có lãnh thổ, không có tổ chức chính quyền và không có lịch sử riêng. Bản thể Chiêm Thành có trước danh xưng. Tổ chức chính quyền của họ có thể đã thành hình cùng lúc với sự xuất hiện của các Lạc hầu, Lạc tướng trên địa bàn lưu vực sông Hồng và sông Mã của nước Văn Lang, thời Hùng Vương.

 

Những tài liệu có dấu vết thời gian rõ ràng (sử liệu cổ Trung Hoa và các bia ký) ghi nhận vương quốc cổ Chiêm Thành chính thức xuất hiện vào khoảng thế kỷ thứ 2, năm 192 khi quốc gia Lâm Ấp ra đời. Thật ra vương quốc này trước đó có rất nhiều tên: Hồ Tôn Tinh, Tượng Lâm. Sau này được đồng hóa với các tên Lâm Ấp, Hoàn Vương Quốc, Chiêm Thành (Campapura), Phan Rang (Panduranga), cuối cùng là trấn Thuận Thành (Pradara). Những tên gốc Phạn vừa kể đều do người Trung Hoa hay người Việt đặt ra, dựa theo cách phát âm của người địa phương mà gọi.

 

Về nước Hồ Tôn Tinh, sách Lĩnh Nam Chích Quái viết: “Xưa kia bên ngoài lãnh thổ Âu Lạc có một vương quốc mang tên Diệu Nghiêm [có thể là Phù Nam]. Vị vua của vương quốc này có tên là Tràng Minh, hiệu Quỷ Vương [Dasanana] có mười đầu. Phía bắc vương quốc này có một vương quốc khác tên Hồ Tôn Tinh [quốc gia của người khỉ] do vua Dasaratha cai trị. Hoàng tử Chung Tư [Rama], người kế vị vua Dasaratha, có một người vợ là công chúa Bạch Tinh [Sita]. Công chúa Bạch Tinh có một sắc đẹp tuyệt trần không giống người phàm. Quỷ Vương, mê hồn trước sắc đẹp của Bạch Tinh, mang binh sang đánh nước Hồ Tôn Tinh cướp công chúa về nước. Hoàng tử Chung Tư, quá căm giận, dẫn đầu một đoàn hầu binh xe núi băng biển tiến vào vương quốc Diệu Nghiêm, giết Quỷ Vương, đưa công chúa Bạch Tinh về”.

 

Theo nhận xét của học giả Huber (La Légende du Ramayana en Annam, Etudes indochinoises), Hồ Tôn Tinh có thể là vương quốc Champa cổ. Những quốc gia chịu ảnh hưởng nền văn minh Ấn Độ thời đó đều có sự tích giống nhau, tại Indonésia trong các đền thờ Bà La Môn lớn đều khắc chuyện thần thoại này trên tường đá. Chuyện Quỷ Vương có mười đầu chỉ là cách mô tả thô thiển ngai vàng của các vị vua trong thần thoại Ấn Độ và Phù Nam thường có hình con rắn hổ mang [naja] mười đầu.

 

Về đất Tượng Lâm, các sử liệu Trung Hoa xác quyết đó là phần đất ở vùng cực nam quận Nhật Nam xưa kia, trực thuộc quyền quan trị hành chánh của Giao Châu thời Bắc thuộc, ngày nay là các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định (có tài liệu ghi đến cửa Đại Lãnh, Phú Yên). Những nhà khảo cổ phương Tây cho rằng Tượng Lâm có thể là phần đất chạy dọc theo bờ biển, từ đèo Ngang đến đèo Hải Vân, nằm trong lãnh thổ các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên, gọi chung là Thanh Nghệ Tĩnh và Bình Trị Thiên. Một số học giả người Chăm xác nhận lãnh thổ Tượng Lâm bao gồm: Indrapura (Bình Trị Thiên), Amavarati (Quảng Nam) và Vijaya (Nghĩa Bình), sau này gọi chung là Bắc Chiêm Thành.

 

Như vậy, về văn hóa, Tượng Lâm là nơi tập cư của nhiều nhóm người xuất thân từ nhiều nền văn hóa khác nhau, một sự pha trộn văn hóa tự nhiên giữa các giống người vào thời hoang sơ. Đầu tiên là sự pha trộn văn hóa giữa các nhóm Indonésien di cư (văn hóa Indus) và cổ Mã Lai (văn hóa Sa Huỳnh), kế là với nhóm Việt tộc sơ sử (văn hóa Đông Sơn), sau có thêm người Hán (văn hóa Khổng Mạnh) từ phương bắc di cư xuống và người Môn Khmer (văn hóa Óc Eo-Phù Nam) từ tây-nam đi lên. Cuối cùng là những nhóm Malayo-Polynésien (văn hóa Mã Lai – Đa Đảo hay Nam Đảo) từ biển cả tràn vào hồi đầu công nguyên. Nhóm sau cùng, hùng mạnh hơn, đã thu phục hay đồng hóa những nhóm có trước, để chỉ còn yếu tố Nam Đảo độc tôn, và thiết đặt quyền cai trị lâu dài (thế kỷ 1 trước và sau công nguyên). Một số cư dân bản địa, không chấp nhận hay không chịu nổi sự cai trị của nhóm di dân mới tới, đã di tản lên vùng rừng núi sinh sống và trở thành những nhóm sắc tộc thiểu số ngày nay, nhưng không vì vậy mà quan hệ giữa đồng bằng và miền núi bị cắt đứt, dân cư hai vùng đã nương tựa nhau để tồn tại trong suốt thời gian qua.

 

Sang thế kỷ thứ 2, một số thương nhân Ấn Độ đến vùng đất này buôn bán và luôn tiện phổ biến nền văn minh và văn hóa mà họ thừa hưởng cho thành phần cầm quyền địa phương và một số cơ chế tổ chức quốc giả đã được thành hình từ miền Nam lên miền Bắc. Một tấm bia đá tìm được ở làng Võ Cảnh (Nha Trang) cho biết vị vương cai trị vùng đất phía nam vào thế kỷ thứ 2 tên là Sri Mara, không có phần kế tiếp. Nhiều học giả cho rằng vị vương đó là Khu Liên, người thành lập vương quốc Lâm Ấp ở phía bắc, là sai. Sri Mara chỉ là một tiểu vương Champa ở phía nam (Kauthara), trong khi Khu Liên là một tiểu vương khác ở phía bắc (Indrapura).

 

Do nằm cạnh lãnh thổ với Trung Quốc, sự hình thành vương quốc Champa phía bắc được biết đến nhiều nhất bởi các nguồn sử liệu Trung Hoa để lại và cũng nhờ đó người ta biết thêm quan hệ giữa người Việt (các Lạc hầu và Lạc tướng) và người Chăm trong thời Bắc thuộc đã rất gắn bó.

 

Cũng nên biết đất Giao Châu, tức nước Văn Lang cũ là thuộc địa của nhà Đông Hán (-202 đến + 220) từ năm 111 trước công nguyên. Sau khi diệt xong nhà Triệu (Triệu Đà), Hán Vũ Đế  chia đất Âu Lạc (Văn Lang cũ) ra làm ba quận: Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam. Theo Tiền Hán thư, quận Giao Chỉ có 92.440 hộ gồm 746.237 dân, quận Cửu Chân có 35.743 hộ gồm 166.013 dân và quận Nhật Nam có 15.460 hộ gồm 69.485 dân. Quận Nhật Nam có năm huyện: Tây Quyển (Hà Tĩnh), Ty Cảnh hay Ty Ảnh (Quảng Bình), Châu Ngô (Quảng Trị), Lô Dung (Thừa Thiên) và Tượng Lâm (từ Quảng Nam trở xuống).

 

Không chấp nhận sự cai trị của người Hán, một số dân cư (các nhóm Lạc hầu, Lạc tướng) từ các quận Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam đã hoặc trốn lên các vùng rừng núi phía tây ẩn náu, hoặc chạy xuống các vùng cực nam (huyện Tượng Lâm) hợp lực với những nhóm dân cư bản địa chống lại quân Hán.  Huyện Tượng Lâm trở thành địa bàn tranh chấp quyền lực giữa quan quân nhà Hán với các nhóm cư dân bản địa trong suốt thời kỳ Bắc thuộc.

 

Trương Tôn, thái thú quận Cửu Chân (25-56 trước công nguyên), mô tả dân chúng huyện Tượng Lâm là “những giống người còn man di, chỉ biết bắt cá và săn thú rừng, không biết cày cấy. Bọn người này rất bất trị, thường hay nổi lên chống lại thiên triều, đốt nhà, giết người, cướp của, rồi rút vào rừng sâu mỗi khi quân tiếp viện đến“.

 

Tại Giao Chỉ, năm 42, một Lạc tướng tên Thi Sách nổi lên chống lại sự cai trị hà khắc của quân Hán nhưng thất bại, ông bị quân đô hộ giết chết. Vợ là Trưng Trắc, cùng em là Trưng Nhị, tiếp nối cuộc kháng chiến chống lại nhà Hán. Hai Bà chiêu mộ nghĩa binh gốc Nam Đảo phía nam và Lạc Việt phía bắc, đánh đuổi quân đô hộ ra khỏi xứ sở. Binh lực của Hai Bà chiếm 65 thành trì trong các quận Nhật Nam, Cửu Chân và Giao Chỉ. Hán vương (Quang Vũ Đế) phải cử Phục Ba tướng quân Mã Viện mang đại quân sang đánh dẹp và chiếm lại những phần đất đã mất. Để xác nhận uy quyền của nhà Hán, Mã Viện cho dựng cột đồng khắc sáu chữ: “Trụ đồng chiết, Giao Chỉ diệt” [Trụ đồng ngã xuống, Giao Chỉ không còn]. Thông điệp này thật ra là một lời nhắn nhũ đám quan quân địa phương: muốn giữ yên đất Giao Chỉ phải ngăn chặn phiến quân từ phía nam tràn lên, nếu không đất Giao Chỉ sẽ mất. Quan quân địa phương ở đây phải hiểu là quan quân nhà Hán và quan quân Lạc Việt hợp tác với nhà Hán cai trị đất Giao Chỉ (gọi chung là người Kinh, tức người định cư trên đồng bằng).

 

Lệnh của Phục Ba tướng quân Mã Viện có lẽ đã được đông đảo dân chúng địa phương nghe theo nên, theo truyền thuyết, khi đi ngang trụ đồng mỗi người phải ném một cục đá vào chân trụ đồng để nó luôn được đứng vững. Sự kiện này giải thích sự qua lại ở khu vực biên giới phía nam quận Giao Chỉ của các thương nhân phía bắc rất là tấp nập. Lâu dần trụ đồng bị lấp, ngày nay không còn dấu vết do đó không biết ở đâu. Cũng có thể Mã Viện, sau khi diệt xong hai Bà Trưng, đã thi hành một chính sách cai trị mềm dẽo hơn để lấy lòng dân chúng địa phương, vì không có sử sách nào nhắc đến những cuộc bạo động của người Giao Chỉ chống lại thiên triều trong suốt hơn 50 năm sau đó.

 

Trụ đồng này là mốc ranh giới đầu tiên giữa nhà Hán và dân cư gốc Nam Đảo. Sự kiện này chứng minh các nhóm dân cư gốc Kinh theo nhà Hán sinh sống trên phần đất phía nam quận Nhật Nam rất sợ những cuộc tiến công của người Nam Đảo phía dưới. Về địa điểm của trụ đồng, sử cổ Trung Hoa (Hậu Hán Thư và Thuy Kinh chú) ghi chép rằng nó nằm ở phần lãnh thổ cực nam của nhà Hán (quận Nhật Nam) ở huyện Cửu Phong (còn gọi là Cự Phong, tỉnh Quảng Trị ngày nay). Những nguồn sử khác (Tấn thư, Nam Tề thư và Lương thư) cũng xác nhận trụ đồng được dựng lên ở phía nam huyện Tượng Lâm (phía bắc Thừa Thiên). Có sách (Tân Đường thư) ghi trụ đồng được dựng lên ở phía nam Quảng Châu[11].

 

Sau biến cố Hai Bà Trưng, có lẽ chính sách cai trị của quan quân Đông Hán đã cởi mở hơn nên đất Giao Chỉ trở nên yên bình trong hơn năm thế kỷ. Ngược lại, tình hình chính trị phía nam, huyện Tượng Lâm, luôn giao động.

 

Mùa hè năm 100, hơn 2.000 dân Tượng Lâm nổi lên phá đồn, đốt thành, giết một số quan quân cai trị. Chính quyền đô hộ phải huy động quân của các quận huyện khác đến dẹp, giết được chủ tướng, cuộc nổi loạn mới tạm yên. Từ đó chính quyền nhà Hán không dám ức hiếp một cách thô bạo dân cư tại đây nhưng đặt vùng đất này dưới quyền cai trị trực tiếp, do một  binh trưởng sứ cầm đầu, phòng hờ những cuộc nổi loạn sau này. Để lấy lòng dân cư địa phương, quan quân nhà Hán tổ chức phát chẩn cho dân nghèo, miễn thuế hai năm…

 

Mục đích của chính sách cai trị trực tiếp này là thu thuế và nhận phẩm vật triều cống (vàng, bạc, sừng tê giác, ngà voi, móng chim ưng, hương liệu, vai lụa…) càng nhiều càng tốt. Thuế và phẩm vật triều cống do những lãnh chúa địa phương (thuần phục nhà Hán) thay mặt thiên triều quyên góp trong dân chúng. Như vậy nhà Hán vừa có thu nhập vừa không hao tốn ngân quỹ, lại duy trì được ảnh hưởng trên vùng đất đó, bù lại lãnh chúa địa phương được thiên triều sắc phong và được bảo vệ khi bị tấn công.

 

Theo sử liệu cổ của Trung Hoa (Hậu Hán thư, Lưu Long truyện, Mã Viện truyện) ghi lại thì người huyện Tượng Lâm luôn chống đối lại chính sách cai trị của nhà Hán và thường tranh chấp lẫn nhau về quyền cai trị tại vùng đất này. Tượng Lâm ở quá xa chính quốc nên sự cai trị trực tiếp của những quan đô hộ và binh lực thiên triều làm hao tốn công quỹ mà lợi ích chính trị và kinh tế chưa chắc đã cao, do đó đã rất lơ là.

 

Năm 136, khoảng 1.000 dân Tượng Lâm nổi lên chống lại sự cai trị của nhà Hán và đánh chiếm huyện Tượng Lâm, họ đã đốt thành và giết trưởng lại (huyện trưởng). Năm sau thứ sử Giao Chỉ là Phàn Diễn phải điều hơn 10.000 binh sĩ từ hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân xuống đàn áp nhưng thất bại. Thay vì đi dẹp loạn, đoàn quân này lại phối hợp với dân quân Tượng Lâm chống lại và chiếm đóng một số thành quách khác trong quận, quan quân Đông Hán phải rút lui khỏi huyện Tượng Lâm.

 

Năm 138, Giả Xương, một quan thị ngự sử nhà Hán đi sứ phía nam, đã cùng với các quan thái thú trong quận Nhật Nam gom quân đi dẹp những cuộc nổi loạn ở huyện Tượng Lâm. Nhưng sau gần một năm cố gắng, tất cả đều thất bại, không những thế họ còn bị dân quân địa phương bao vây hơn cả năm trời. Từ đó nhà Hán mất tin tưởng ở đám quan quân địa phương và chỉ tin dùng quan quân từ Trung Hoa đưa xuống. Năm sau Hán Thuận Đế sai tướng Cổ Xương huy động 40.000 quân ở các châu Kinh, Dương, Duyên, Dự (Trung Hoa) xuống đàn áp cuộc nổi dậy. Cổ Xương bị quân nổi loạn đánh bại, Hán vương sai một tướng khác tên Lý Cố mang viện binh tiếp trợ nhưng Lý Cố viện bảy lý do để hoãn binh. Cuộc tiến quân bị khựng lại và tình hình tạm yên trở lại.

 

Những kế sách của Lý Cố là: ly gián nội bộ những người nổi loạn bằng cách mua chuộc những lãnh chúa địa phương nhằm làm suy yếu tiềm lực của dân quân Tượng Lâm ; tránh can thiệp bằng quân sự vào những tranh chấp cục bộ của người địa phương ; chỉ để lại một quan lại người địa phương thay mặt thiên triều cai trị ; vấn đề lãnh đạo địa phương để cho người địa phương chọn lấy, người thắng cuộc được thiên triều tấn phong ; quan cai trị địa phương phải là một lãnh chúa thần phục thiên triều ; tước Vương Hầu (dành cho người nhà Hán) và Liệt Thổ (dành cho người địa phương).

 

Để  thực hiện mưu kế của Lý Cố, Hán vương phong Trương Kiều làm thứ sử Giao Chỉ và Chúc Lương làm thái thú Cửu Chân ; cả hai có nhiệm vụ thu thuế và nhận phẩm vật từ những quan lại được nhà Hán tấn phong. Trương Kiều đã thu phục được hàng chục ngàn thường dân Nhật Nam và Tượng Lâm qui thuận Hán triều.

 

Năm 144, dân chúng quận Nhật Nam và huyện Tượng Lâm lại nổi lên chống lại ách cai trị của nhà Hán, nhưng bị thứ sử Hạ Phương đánh bại. Năm 157, một người tên Chu Đạt cùng với dân chúng Cửu Chân nổi lên giết huyện lệnh ở Cự Phong và thái thú Nghê Thức chiếm quyền lãnh đạo. Sự kết hợp tự nhiên giữa dân chúng hai quận Cửu Chân và Nhật Nam gây nhiều bối rối cho các quan quân cai trị. Dưới sự chỉ huy của đô úy quận Cửu Chân là Ngụy Lãng, quân Hán phản công quyết liệt, giết hơn 2.000 dân Cửu Chân, phe nổi loạn phải chạy xuống phía nam chiếm quận Nhật Nam và chống trả lại. Trong ba năm liền, từ 157 dến 160, lực lượng nghĩa quân huyện Tượng Lâm, khoảng 20.000 người, tiến lên đánh quân Hán và chiếm nhiều huyện khác của Nhật Nam. Vài năm sau, năm 178, Lương Long cầm đầu cuộc khởi nghĩa chống lại quân Hán, chiếm được nhiều vùng đất từ Giao Chỉ đến Hợp Phố và từ Cửu Chân đến Nhật Nam ; năm 181 Hán vương cử Lã Đại mang đại quân sang đánh dẹp tình hình mới tạm yên.

 

Đến đời Hán Sơ Bình (190-193), nhân nội tình Trung Hoa loạn lạc, dân chúng Tượng Lâm, phối hợp với dân cư hai quận Cửu Chân và Nhật Nam, nổi lên đánh đuổi quân Hán và đạt thắng lợi sau cùng. Năm 192, tiểu vương quốc Champa đầu tiên phía bắc chính thức ra đời, dưới tên Lâm Ấp. Tiểu vương quốc này là đầu tàu mở đầu cuộc đấu tranh giành độc lập của người Kinh ở phía bắc và là phong trào thống nhất vương quốc Chiêm Thành ở phía nam.Từ sau nửa thế kỷ thứ hai sau công nguyên, phần lãnh thổ cực nam Giao Chỉ trở nên khó trị, dân cư bản địa liên tục nổi lên chống lại chính sách cai trị hà khắc của chính quyền đô hộ nhà Hán. Huyện Tượng Lâm trở thành nơi tranh chấp thường trực giữa quan quân đô hộ và nhân dân địa phương.

 

Năm 190, người Tượng Lâm nổi lên giết thứ sư Chu Phù và chiếm huyện thành. Vài năm sau, năm 192, dân cư Tượng Lâm lại nổi lên giết huyện lệnh (huyện trưởng) và tôn Khu Liên, con một quan công tào (xã trương) địa phương, lên làm vua. Khu Liên tự tiện xén một phần lãnh thổ cực nam của quận Nhật Nam – huyện Tượng Lâm – thành lập một vương quốc riêng: Lâm Ấp.

 

Như vậy, trải qua hàng ngàn năm từ thưở những di chỉ khảo cổ đầu tiên của nền văn hóa Sa Huỳnh xác lập tổ tiên của người Chăm, đến việc hình thành hai tiểu quốc lấy đèo Cù Mông làm ranh giới, đến quá trình đấu tranh của những anh em Bắc Chăm tại Tượng Lâm, nhờ sự lãnh đạo của Khu Liên trong cuộc đấu tranh chống lại sự Hán Hoa, tiền thân của quốc gia Champa chính thể đã hình thành, cũng chính thức đưa lịch sử Champa sang một trang mới, từ hồng hoang đã lập được quốc gia, bây giờ chúng ta cũng tìm hiểu về quá trình xây dựng và phát triển quốc gia đó.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét