Quân Đội Chăm Pa
Chăm Pa
a.k.a Chiêm Thành, Campanagara (Nagara: xứ sở; Campanagara: Xứ sở Chăm Pa) và
Lâm Ấp trước thế kỷ thứ 8 là tên tập hợp liên bang các tiểu quốc của đồng bào
Chămđược thành lập và tồn tại trên dải đất miền Trung từ phía Nam hoành Sơn trở
vào tới khu vực Bình Thuận từ năm 192 cho tới khi người Chăm hoàn toàn bị bàn
tay độc tài của minh Mạng xóa bỏ hẳn quy chế tự trị của Thuận Thành Trấn năm
1832 cũng như sự đàn áp thẳng tay người Chăm trong cuộc khởi nghĩa Ja Thak Wa nổ
ra sau đó (1834-1835) kết cục là dẫn đến việc người Chăm bị đàn áp nặng nề
Lãnh thổ
miền Trung Việt Nam từ khoảng thời gian trước Công Nguyên đã có những cư dân
thuộc văn hóa Sa Huỳnh nói ngữ hệ Mã Lai Nam Đảo sinh sống.
Những đợt
di cư của các nhóm tới sau đẩy dần các nhóm tới trước lên vùng Tây Nguyên
Vào những
năm đầu Công Nguyên thì trên lãnh thổ Việt Nam hình thành 3 cộng đồng chính là
người Việt thuộc ngữ chi Việt Mường ở phía bắc, người chăm thuộc ngữ hệ Mã Lai
– Nam Đảo ở miền Trung và khu vực Nam Bộ thuộc Phù Nam
Người
Chăm trong các thư tịch cổ được chép lại gồm 2 thị tộc chính là thị tộc Dừa
(Narikelavamka) ở phía Bắc và thị tộc Cau (Kraukavamka) ở phía Nam
Đây là 2
nhóm quan trọng hình thành nên nhà nước liên bang Chăm Pa về sau cũng như là mối
mâu thuẫn truyền kiếp dẫn đến sự hưng suy của vương quốc Chăm Pa
Sau khi
tướng Mã Viện đánh bại Hai Bà Trưng năm 43 và tái lập nền đô hộ lên đất Âu Lạc
xưa thì bộ phận người Chăm ở phía Bắc cũng bị nằm dưới ách đô hộ của quân Hán
Vùng đất
người Chăm bị nhà Hán đô hộ, đặt huyện Tượng Lâm ở phía nam sông Gianh, Hoành
Sơn trở vào thuộc châu quận Nhật Nam
Tượng Lâm
là châu quận xa nhất và thường xuyên xảy ra nhiều cuộc xung đột giữa chính quyền
với người bản địa khi khu vực này có khá nhiều bộ tộc không thần phục Hán triều
được Hán triều gọi là rợ Khu Liên (trùng tên với vua Khu Liên, Sri Mara lãnh đạo
người Chăm giành độc lập về sau)
Chiến sự
giữa người bản địa và quân Hán đồn trú tiếp tục xảy ra như cơm bữa ở các khu vực
Nhật Nam - Tượng Lâm cho đến tận năm 184 khi 3 anh em họ Trương là Trương Giác,
Trương Bảo và Trương Lương ở Cự Lộc lãnh đạo giáo đồ Thái Bình đạo thành lập lực
lượng Khăn Vàng và đứng lên nổi dậy chống lại Hán đình
Cuộc nổi
dậy của quân Khăn Vàng cũng như các cuộc nổi loạn của người Khương ở Tây Lương
và vô số các cuộc khởi nghĩa khác cũng như các cuộc đấu đá nội bộ giữa sỹ phu với
hoạn quan, nạn tham nhũng đã làm cho Hán đình bước vào con đường tàn vong
Năm 192,
Khu Liên lãnh đạo nhân dân huyện Tượng Lâm đứng lên đánh đuổi người Hán và
thành lập nên nhà nước riêng của người Chăm, sử gọi là Lâm Ấp
Lãnh thổ
Lâm Ấp ban đầu được xác định là tương đương vùng Tượng Lâm cũ tức là từ dãy
Hoành Sơn trở vào nam.
Cương giới
phía Nam của Lâm Ấp có thể không xác định được d nhiều nguồn tài liệu khác nhau
đưa ra chỉ dẫn khác nhau song có thể đoán định là ở vòng vòng khoảng khu vực
Đèo Cả trở ra, không thể xa hơn về phía nam vì từ khu Phú Khánh trở vào thuộc địa
bàn Panduranga nhóm thị tộc Cau phía nam
Sở dĩ cho
là cương giới như vậy bởi vì dựa trên việc 2 nhóm Nam Chăm (thị tộc Cau) và Bắc
Chăm (thị tộc Dừa) có 2 khu Thánh địa khác nhau trong suốt quãng thời gian tồn
tại cũng như tranh giành quyền lãnh đạo liên bang Chăm Pa giữa 2 nhóm Nam Chăm
và Bắc Chăm
Nhóm phía
Nam có thánh địa thờ Yang Po Inư Nagar (Bà Mẹ xứ sở; người Việt gọi là Thiên Y
A Na) ) ở tại thành phố Nha Trang mà ngày nay mỗi dịp Rija Nưgar (ngày lễ xứ sở;
lễ mừng năm mới) vào tháng 4 âm lịch (theo Chăm lịch là tháng 1; dao động trong
khoảng thời gian trong cùng 1 tháng với các lễ té nước của người Thái, Lào hay
Myanmar và Khmer cũng được tổ chức ăn mừng dịp đầu năm theo lịch của họ) vẫn được
người Chăm hành hương lên tháp làm lễ hằng năm
Trong khi
đó thì nhóm phía Bắc cũng xây dựng khu Thánh địa quy mô riêng của mình ở Mỹ Sơn
( Thánh địa Hào quang) nhằm thờ thần tổ của Lâm Ấp
Trong suốt
thời kỳ tồn tại của mình thì Chăm Pa được tổ chức theo hệ thống liên bang mandala
khi các tiểu quốc yếu hơn phải thần phục bá quyền của vua tiểu quốc mạnh hơn,
chủ nhân của lọng trắng, còn nếu không phục thì tất sẽ phải dùng binh lực để so
cơ
Tùy vào từng
thời kỳ mà Chăm Pa có số lượng tiểu quốc khác nhau song dao động khoảng 5-6 tiểu
quốc chính là Indrapura ở Đồng Dương, Quảng Nam; Amaravarati ở Quảng Nam, Đà Nẵng,
Vijaya ở khu vực Bình Định, Aiaru ở Phú Yên, Kauthara ở Khánh Hòa cùng
Panduranga ở Ninh Thuận – Bình Thuận
Trở lại với
Lâm Ấp thì Khu Liên sau không có con nên cháu ngoại là Phạm Hùng và con Phạm
Hùng lên kế vị cho tới khi cháu Phạm Hùng bị nô bộc Phạm Văn người gốc Hoa ở
Dương Châu đoạt vị
Ngôi vị
quốc chủ Lâm Ấp truyền sang dòng hậu duệ của Phạm Văn
Phạm Văn
cùng các hậu duệ đã ra sức mở rộng bờ cõi, chinh phục các tiểu quốc Đại Kỳ Giới,
Tiểu Kỳ Giới, Thức Đô Bộc...ở xung quanh cũng như Bắc tiến đánh vào các châu quận
Thiên Triều ở bên kia sông Gianh
Ngoài ra
thì Phạm Văn với gốc gác ngoại quốc đã du nhập nhiều cái mới vào nhà nước Lâm Ấp
non trẻ như tổ chức quân đội, xây dựng kinh đô, thành trì…
Kinh đô đầu
tiên của Lâm Ấp đóng tại Kandapura (Điển Xung) ở xã Thủy Xuân thuộc Thừa Thiên
Huế
Ngoài ra
thì để bảo vệ vùng đất cũ ở phía nam sông Gianh thì Lâm Ấp cũng xây thêm thành
Khu Túc (Kurung) thuộc địa phận Cao Lao Hạ, Hạ Trạch, Bố Trạch của tỉnh Quảng
Bình)
Quân đội
Lâm Ấp do các vua chỉ huy nhiều lần giao chiến với quân Thiên triều Trung nguyên
cũng như nhiều lần đánh ra tận Nhật Nam
Sau trận
thua năm 455, tình hình nội trị Lâm Ấp không được mấy sáng sủa khi vào năm 472
Phạm Đang Căng Thuần giết chết quốc chủ Lâm Ấp là Phạm Thần Thành để đoạt vị
Theo các
sách thì năm 472, 1 người Phù Nam là con hoặc quan của vua Phù Nam là Phạm Đang
Căng Thuần đã giết vua Lâm Ấp để đoạt vị
Sự kiện
này và có thể gồm 1 phần các sự kiện rời rạc trước đó đã đưa vào cộng đồng Chăm
bộ phận dân cư thị tộc Dừa ở vùng Panduraga, (Phan Rang a.k.a Bôn Đà Lãng), Kauthara
Lãnh thổ
thị tộc Dừa có thể trước đó từng bị chinh phục nhiều lần bởi các vua Lâm Ấp
song về cơ bản và căn cứ theo Các tiểu quốc của vương quốc Phù Nam ở Nam Bộ của
Nhà xuất bản Đại học quốc gia thì vùng Phú Yên, Ninh Thuận, Bình Thuận lúc này
theo 1 số giả thuyết về cơ bản vẫn chịu ảnh hưởng và là thuộc hạt của khu thánh
địa Cát Tiên của Phù Nam
Nhìn theo
căn cứ tổ chức tiểu quốc của 1 số quốc gia cổ theo Bà La Môn bấy giờ thì hầu
như các tiểu quốc và trên mức đó là các vương quốc đều tổ chức cho mình 1 khu
thánh địa đền đài , tùy theo cấp độ là quy mô của riêng tiểu quốc hay của 1
nhóm
Dựa vào bản
đồ các tháp Chăm đã từng và đang tồn tại cũng như khu vực bản đồ địa khu thì có
thể thấy hầu như các tiểu quốc Chăm Pa cấu thành nên liên bang Chăm Pa đều có đặc
điểm này điển hình như tiểu quốc Indrapura (Lôi Điện Thành; Indra là Sấm sét,
Pura là thành) với lãnh thì có khu thánh địa phật viện Đồng Dương, Amavaravati
thì có khu tháp Chánh Lộ là tối thiểu, Vijaya thì có khu tháp Bánh Ít – Cánh
Tiên – Dương Long…, Phú Yên tùy theo giai đoạn trong lịch sử Chăm Pa là tiểu quốc
Aiaru thì cũng có khu Tháp Nhạn với tiểu quốc Kauthara thì sở hữu khu thánh địa
thờ Yang Po Inư Nagar và tiểu quốc Panduranga Ninh Thuận – Bình Thuận thì có 1
loạt các đền tháp Po Klong Garai, Po Rome, Po Sah Inư…
Theo Các
tiểu quốc thuộc vương quốc Phù Nam ở Nam Bộ thì lãnh thổ Phù Nam ở Nam Bộ đại để
có thể chia ra làm 3 tiểu quốc lớn căn cứ theo sinh thái, kinh tế, hiện vật là
tiểu quốc Na Phất Na (Naravaranagara) ở khu vực từ sông Tiền trở về nam tới tận
mũi Cà Mau – là trung tâm đầu não chính của khối liên bang Mandala Phù Nam, tiểu
quốc “chinh phục từ đầm lầy” là phong ấp của thái tử Gunarvarman với 1 số khu
di chỉ phế tích có quy mô như Gò Tháp ở Đồng Tháp Mười hay Gò Thành ở Tiền Giang
có phạm vi trải dài từ sông Tiền lên sông Đồng Nai (1 số thành bang nhỏ có thể
do các cháu hoàng tộc Phù Nam trấn giữ tồn tại mãi tới thời Chân Lạp như
Adinintapura tức là TP Hồ Chí Minh, Sài Gòn sau này) và từ sông Đồng Nai lên
phía bắc tới tận biên giới Lâm Ấp là thuộc xứ Cát Tiên gồm các tiểu quốc mà về
sau này khi Phù Nam banh chành thì tan rã thành vô số tiểu quốc như tiểu quốc Mạ,
tiểu quốc Lạt, Bà Lị, Thù Nại cũng như các tiểu quốc Panduranga của nhóm Chăm
phía Nam
Ngoài ra
thì dựa vào vương vị của các đời quốc chủ Lâm Ấp – Chăm Pa mà cũng có thể thấy
có 1 số đặc điểm phân biệt giữa 2 nhóm Chăm Nam và bắc là ở cuối vương hiệu của
các vị vua dòng phía Bắc thường là varman (vào thời Hoàn Vương và cả 1 số thời
kỳ khi các vua thuộc Panduranga cai quản luôn lãnh thổ nhóm Chăm phía Bắc thì
cũng để đuôi “varman” vào cuối vương hiệu) trong khi từ sau năm 1477 khi Chăm
Pa mất lãnh thổ phía Bắc vào tay người Việt thì các quốc chủ Champa Panduranga
đều xưng Po (Ppo) trước tên hiệu của mình như Ppo Rome, Ppo Mưh Taha
Khi Phạm
Đang Căng Thuần cướp hoàng vị Lâm Ấp vào năm 472 thì khu vực các tiểu quốc ở
phía Bắc của nhóm Cát Tiên của Phù Nam đã chuyển chủ từ Phù Nam sang Lâm Ấp tuy
nhiên thì triều đình Lâm Ấp cũng như thị tộc Dừa phía Bắc vẫn tồn tại sự phân biệt
với nhóm phía Nam với gia nhập và sự phân biệt này đã dẫn đến sự đấu đá nội bộ
trong nhiều thế kỷ
Sau các
thất bại vào năm 602 trước sự tấn công của tướng Tùy Lưu Phương thì kinh thành
Điển Xung bị phá hủy buộc Lâm Ấp phải dời đô đến Simhapura (thành phố Sư Tử) ở
làng Trà Kiệu thuộc Duy Xuyên , Quảng Nam và tồn tại mãi cho đến khi vua Lâm Ấp
cùng các thành viên nam trong hoàng tộc Lâm Ấp của vương triều Gangaraja vào
năm 654 khiến cho chính trường Lâm Ấp bị bất ổn trong nhiều năm với các vua kế
tiếp của Lâm Ấp lần lượt dùng tới vũ lực để kế vị
Sự suy
tàn của Lâm Ấp kéo dài tới năm 757 khi vị vua xứ Bôn Đà Lãng (Panduranga) là
Prithi Indravarman đã nổi lên lật đổ vua cuối cùng của Lâm Ấp là vua
Bhadravarman Đệ Nhị và chuyển quyền lực chính trị về tay nhóm Nam Chăm
Vương triều
do vua Prithi Indravarman thành lập được sử gọi là Hoàn Vương (757-859)
Vua
Prityhi Indravarman 1 mặt cho xây đền thờ nữ thần tổ bằng gạch tại khu thánh địa
đền Po Nagar
Ngoài ra
thì từ thời Hoàn Vương, các vua cũng bắt đầu trồng cây Kraik (cây vấp) vốn được
xem là thần mộc che chở cho Đại Chăm quốc
Thần mộc
Kraik về sau đi vào sử thi Chăm với việc vua Po Rome (1627-1651) dưới sự mê hoặc
của công nữ Ngọc Khoa, con gái chúa Nguyễn mà cho đốn đi thần mộc khiến cho
vương triều tàn lụi, binh bại thân vong
Sự giàu
có của Hoàn Vương đi kèm với cái nhìn đố kỵ và thèm khác của nhiều lân bang
Lần lượt
các đợt tấn công và nổi dậy của giặc Chà Và (quân đội xứ Sailendra từ Java), quân
đế quốc Khmer (Kur) mới thành lập cũng như các bộ lạc vùng Cao nguyên như
Candra ở phía Bắc, Agni (Đông), Indra (Đông Bắc), Yama (Nam) và Yaksha là các bộ
lạc người Thượng ở phía Nam trên đất của người Khmer cũng như việc Hoàn Vương bắc
tiến đánh nhau với nhà Đường
Trong số
các kẻ thù này thì ngu hiểm và lâu dài nhất chính là thế lực người Khmer của đế
quốc Angkor
Năm 857,
vua cuối cùng của Hoàn Vương mất, quyền lực chính trị của liên bang Champa lại
chuyển vào tay vua Jaya Indravarman II của tiểu quốc Indrapura ở Đồng Dương
Dù tên gọi
Chăm Pa a.k.a Campa xuất hiện trên các bia ký trước đó của người Chăm song
chính từ năm 857-859 trở đi quốc danh Chăm Pa/Chiêm Thành/Nagaracampa được ghi
vào thư tịch của các quốc gia trong khu vực mãi cho tới khi Chăm Pa tiêu vong
Quân đội
Liên bang Champa dưới sự lãnh đạo và dẫn dắt của tiểu quốc Indrapura đã nhiều lần
đánh bại quân Khmer ( Kur/Kvir trong tiếng Chăm) và bành trướng tới tận vùng Đồng
Nai Thượng cùng 2 tỉnh Ratanakiri và Mondulkiri ở trên đất Campuchia ngày nay
Ngoài ra
thì có lẽ vương triều Indrapura Đồng Dương cũng là vương triều duy nhất của
Chăm Pa du nhập và sùng bái cả Phật giáo với phế tích Phật viện Đồng dương còn
tồn tại đến ngày nay
Bên cạnh
thế lực mới nổi của người Khmer đế quốc Angkor thì Champa cũng phải đối phó với
sữ trỗi dậy của người Việt ở phía Bắc sau khi Khúc Thừa Dụ giành lại quyền tự
chủ và Ngô Quyền đánh bại thủy quân Nam Hán tại trận địa cọc Bạch Đằng năm 938
để bảo vệ nền độc lập (bấy giờ còn dùng danh hiệu hành chính cũ của nhà Đường
là Tĩnh Hải Quân) trước quân xâm lược phương Bắc.
Sau khi
Ngô Quyền mất năm 944 thì người Việt bước vào giai đoạn nội chiến 12 sứ quân
Năm 968,
Đinh Bộ Lĩnh với bộ chúng kế thừa của sứ quân Trần Lãm (Trần Minh Công) cùng sự
phò tá của các tướng tài đã lần lượt thống nhất các sứ quân, lên ngôi vạn thống
với tôn hiệu Đại thắng Minh Hoàng Đế a.k.a Đinh Tiên Hoàng, lập ra nhà Đinh, đặt
quốc hiệu là Đại Cồ Việt
Trong số
các sứ quân bị chinh phục có con cháu trong tông tộc họ Ngô của Ngô Quyền là
Ngô Nhật Khánh được vua Đinh Tiên Hoàng thu phục, gả cho công chúa
Song Ngô
Nhật Khánh vẫn không phục, đào tẩu sang Chiêm quốc và khi nghe tin vua Đinh
Tiên Hoàng cùng trưởng tử Đinh Liễn bị ám hại đã xin vua Chăm là Jaya
Paramecvaravarman Đệ Nhất a.k.a Phê Mị Thuế cho mượn quân về phục quốc
Đoàn binh
thuyền Chăm Pa hộ tống Ngô Nhật Khánh tiến vào 2 cửa biển Đại Ác a.k.a cửa bể
Thần Phù (nay đã bị bồi lấp, nằm trên khu vực 2 huyện Nga Sơn của Thanh Hóa với
Yên Mô Ninh Bình hiện nay) và cửa Tiểu Khang thì bị bão nhấn chìm gần hết chỉ
còn vua Chăm cùng 1 số tàn quân thoát được
Năm 981,
quân Tống kéo sang xâm lược Đại Cồ Việt lần 1 song bị tự quân là Lê Hoàn (Lê Đại
Hành) được tướng sỹ ủng lập đánh tan
Sau khi
chiến thắng quân Tống, vua Lê Đại Hành đã cử sứ sang Chăm Pa song bị bắt giam
(có lẽ do Chăm Pa vẫn còn xem họ Ngô với họ Đinh là hoàng thất hợp pháp) nên đã
kéo quân sang đánh thẳng vào tàn phá quốc đô Indrapura, chém vua Chăm tại trận
Người
Chăm đại bại, buộc phải dời chuyển trung tâm chính trị về tiểu quốc Vijaya (Phật
Thệ/ Đồ Bàn/ Chà Bàn) ở Bình Định
1 người
Việt là Lưu Kế Tông nhân cơ hội khoảng trống quyền lực được tạo ra do sự tấn
công của quân Tiền Lê mà chiếm cứ Bắc chăm để tự lập làm vua cho đến năm 988
Sau khi
trung tâm quyền lực chuyển về xứ Vijaya thì Chăm Pa cùng Đại Cồ Việt (từ năm
1054 thì đổi sang quốc hiệu Đại Việt) và đế quốc Khmer hình thành mối quan hệ
tay 3 khi hòa khi chiến, chủ yếu là chiến sự thường xuyên nổ ra giữa người Chăm
và người Việt hoặc người Chăm với người Khmer song cũng nhiều lúc thì người
Khmer cũng phát sinh xung đột với người Việt
Giữu lúc
này thì nội bộ chính trường Chăm Pa cũng lục đục do sự tranh đấu quyền lực giữa
2 miền Nam – Bắc
Khoảng
năm 1145, quân Angkor tràn sang đánh và chiếm cứ Champa, vương triều của thành
Vijaya tiêu vong
Trong cơn
binh lửa, quyền lực lại chuyển về phía nam vào tay xứ Panduranga
Khoảng
năm 1149-1150, vua Champa Harivarman Đệ Nhất tiến hành cuộc nội chiến chống lại
anh rể kiêm đối thủ Vamcaraja (Ung Minh Ta Điệp) vốn được sự ủng hộ của các đồng
bào Tây Nguyên như người Mleccha, Mada
Vì người
Chăm gọi chung là người Thượng là Kirata nên sử gọi đây là loạn Kirata
Quân đội
Champa đánh bại các chiến binh Tây Nguyên ở nhiều trận như tại trận làng Slây
khiến Ung Minh Ta Điệp kế cùng chạy sang mượn quân nhà Lý Đại việt về giúp sức
nhưng vẫn thua
Các đời
vua Panduranga sau đó kế tiếp nhau cho tới năm 1167 khi vua Jaya Indravarman Đệ
Tứ lên phát dương quang đại và đưa cái tên Champa lên bản đồ thế giới với đại
thắng tại trận thủy chiến trên sóng nước Tonle Sap năm 1177
Vua Jaya
Indravarman Đệ Tứ, nổi danh hơn là Po Klaong Garai theo truyền thuyết là tên
lúc nhỏ là Jatol do có thiên mệnh nên được vua Nuhol của tiểu quốc Aiaru ở Phú
Yên gả con gái là Thakol
Sau khi
vua Jaya Harivarman Đệ Nhị băng hà tại kinh thành Bal Sri Banoy (Thị Nại) năm
1167 thì quần thần đón về tôn làm quốc chủ
Vua Po
Klaong Garai sau khi lên ngôi đã dùng lễ đuổi quân Khmer của tướng Hakral đang
trú đóng ở vùng Balhul thuộc Panduranga thông qua việc chiến thắng thử thách cuộc
thi xây tháp nhanh
Sau khi
tiễn hết quân Khmer về nước thì vua Po Klaong Gatrai lợi dụng tình thế triều
đình Angkor đang xảy ra bất ổn, kèn cựa, tranh giành hoàng vị mà xây dựng kinh
tế và đội quân mạnh rồi 2 lần phát đại quân tiến đánh Angkor.
Trong 2 lần
tiến đánh Angkor theo sử thì lần 1 với hàng ngàn cỗ xe có lẽ do lưỡng bại câu
thương, ảnh hưởng đến chiến sự nên vua Po Klong Garai đã phát động cuộc hành
binh bằng ngả đường thủy, ngược dòng Mekong, vào Biển hồ Tonle Sap, âm thầm áp
sát kinh thành Angkor của người Khmer
Khi người
Khmer phát hiện ra được quân Champa động binh thì đã muộn
Người
Khmer vội vã tập hợp hạm đội do vua Tribhuvanadityavarman cùng vương tử thành
Vijaya thù địch là Vidyanandana ra nghênh chiến với hạm đội Champa đang áp sát
gần thành
Hạm đội
Champa do vua Po Klong Garai chỉ huy nhanh chóng giành thắng lợi, đánh bại quân
Khmer cũng như giết vua Tribhuvanadityavarman và tạm thời cướp phá, đồn trú
trên đất Angkor cho tới khi họ bị suy yếu do phải chiến đấu xa nhà
Nắm được
cơ hội này, quốc chủ mới của Angkor là Jayavarman Đệ Thất đem quân nổi dậy, tái
chiếm lãnh thổ cũng như đem quân ủng lập ứng viên cho ngai vàng Champa của mình
là Vidyanandana về nước
Lực lượng
quân Khmer nhân cơ hội vua Po Klong Garai đang mải lo tập trung phát triển kinh
tế, khôi phục sản xuất sau chiến tranh mà giành thắng lợi cũng như đưa
Vidyanandana lên ngôi quốc chủ Champa
Tuy nhiên
Vidyanandana sau khi đánh bại và khiến cho Jaya Indravarman Đệ Tứ bị đế quốc
Angkor bắt làm tù binh đã tìm cách ly khai khiến cho Angkor phải thả Jaya
Indravarman Đệ Tứ về để làm đối trọng kìm hãm song âm mưu của người Khmer bị thất
bại
Quân Khmer
sau đó kéo sang tấn công, đánh bại Champa cũng như đô hộ xứ này cho tới khi vua
Jaya Paramesvaravarman Đệ Nhị đem binh đánh đuổi người Khmer giành lại độc lập
Giữa lúc
người Chăm đang khôi phục lại kinh tế bị ảnh hưởng bởi chiến tranh với Khmer
thì năm 1283, hạm đội nhà Nguyên gồm 1000 thuyền với 200,000 quân do Toa Đô
(Sugetu) chỉ huy kéo sang xâm lược trong 1 phần âm mưu lớn hơn là cô lập và
giáp công Đại Việt từ nhiều phía
Trước thế
mạnh quân Nguyên, vua Champa là Indravarman Đệ Ngũ cùng con trai là Chế Mân
a.k.a Sri Harijit Po Devada Svor (sau là Jaya Simhavarman Đệ Tam) cùng rút lên
rừng núi liên hợp với người Thượng kháng chiến khiến quân Nguyên đuổi theo gặp
nhiều tổn thất cũng như buộc Toa Đô phải cho quân co cụm lại làm đồn điền ở ven
biển để rồi tới năm 1285 thì lên Bắc hội quân với Thoát Hoan (Toghan) và tử trận
trên chiến trường Đại Việt
Sau khi
cùng giành thắng lợi với người Việt trong cuộc chiến chống quân Nguyên Mông,
Chăm Pa đã kết hữu hảo khi thượng hoàng Trần Nhân Tông gả Huyền Trân công chúa
(vương hiệu hoàng hậu Chăm là Paramecvari) cho vua Chế Mân (vua còn có 1 hoàng
hậu người Java là Tapasi) với sính lễ của người Chăm là 2 châu Ô, Lý (khu vực
Quảng Nam tới Quảng Bình)
Tuy
nhiên, hạnh phúc của cuộc hôn nhân này không bền lâu khi công chúa Huyền Trân vừa
sinh hạ xong hoàng tử thì vua Chế Mân qua đời
Triều
đình nhà Trần vì khiếp hãi trước phong tục tự thiêu trên giàn hỏa của hoàng hậu
(Sati) của Bà La Môn giáo mà cho Trần Khắc Chung mượn cớ viếng tang sang lén
đón công chúa về
Sự hiểu lầm
tai hại và không rõ đầu cua tai nheo của tục Sati này dẫn đến các vua Chăm sau
đời vua Chế Mân coi là quốc sỉ và động binh với đại Việt nhằm để thu hồi của hồi
môn là 2 châu Ô Lý về
Sati tuy đúng
là tục người vợ của các chiến binh (Rajah, Kshaktria) phải tự mình lên giàn hỏa
để chết theo chồng ở quy mô cá nhân hoặc quy mô tập thế (Jauhar) song ở Chăm Pa
thì không phải hoàng hậu nào hễ muốn tử tiết thì là có thể tử tiết ngay và luôn
như các liệt nữ bên văn hóa Nho giáo đồng văn hay bên Ấn Độ cùng thời hay làm
theo ý mình mà việc muốn tiến hành nghi thức tự thiêu Sati còn phải qua sự hội
ý của các đại thần cùng người kế vị là kế vương (Yuravaja) cùng các tu sỹ tăng
lữ và hội đúng điều kiện thì mới được chuẩn ý cho làm
Sự căng
thẳng giữa Chăm Pa và Đại Việt lên đỉnh điểm khi Zainal Abidin lên kế vị với
vương hiệu Chế Bồng Nga a.k.a Po Binasuor, Po Bhinethuor, R’căm B’nga
Quân đội
Chăm Pa dưới sự chỉ huy của vua Chế Bồng Nga tài ba đã nhiều lần làm cho quân đội
nhà Trần điêu đứngvới 4 lần đánh vào Thăng long cùng 1 lần phục kích giết chết
vua Trần Duệ Tông tại thành Đồ Bàn vào năm 1377
Năm 1390,
trong trận thủy chiến sông Hải Triều thì quân Trần do tướng Trần Khát Chân chỉ
huy với sự chỉ điểm của hàng tướng người Chăm là Ba Lậu Kê đã bắn chết vua Chế
Bồng Nga
Thuộc tướng
vua Chăm là La Ngai (Ko Ceng) đã thu thập tàn quân về nước để giành ngôi
Trong khi
người Việt đang bị quân Minh đánh bại và đô hộ thì quân Chăm Pa chủ yếu bắc tiến
thu lại các vùng đất đã mất khi trước rồi lại quay về nam giao tranh với người
Khmer
Tận dụng
đế quốc Angkor cũng đang bầm mình bầm mẩy với người Thái mới nổi, quân đội Chăm
đã nhanh chóng nam tiến vào lãnh thổ người Khmer và chiếm được thành trì Nagara
Brah Kanda (thuộc Biên Hòa, Đồng Nai ngày nay) và duy trì cho tới khi họ bị người
Khmer mượn tay quân đánh thuê Tây Ban Nha đến đuổi đi
Sau khi
người Việt giành lại độc lập từ tay Minh triều năm 1428 trong cuộc khởi nghĩa
Lam Sơn thì giữa Chăm Pa và Đại Việt lại phát sinh xung đột và đến năm 1471 thì
quân đội Hậu Lê do vua Lê Thánh Tông chỉ huy đánh bại vua Chăm là Bàn La Trà
Toàn ở Đồ Bàn cũng như chia 3 Chiêm quốc thành Chăm Pa Panduranga do Bô Trì Trì
(từ đây trở đi các quốc chủ Champa đều có chữ xưng hiệu đầu là Ppo) cùng Hoa
Anh (Kauthara) và Nam Bàn (tiểu quốc Jarai)
Năm 1611,
chúa Nguyễn Hoàng cử tướng gốc Chăm là Văn Phong đánh chiếm tiểu quốc Aiaru và
lập ra Phú Yên
Văn Phong
về sau làm loạn, liên kết người Chăm chống lại chúa Nguyễn song vua Chăm khi đó
do thân phận là con rể chúa Nguyễn nên không dám ra mặt công khai trợ giúp
Năm 1627,
vua Po Rome a.k.a Jakathaut người Churu lên ngôi sau lấy con gái vua Po Klong
M’hnai là Bia (hoàng hậu) Than Cih
Vua Po
Rome sau đó còn được chúa Nguyễn gả con gái là công nữ Ngọc Khoa (Bia Ut Yuôn)
bên cạnh hậu cung gồm hoàng hậu Bia Than Cih và thứ phi bia Than Can người Ê Đê
Chính từ
lúc này mới là điểm nghi vấn trong sử vì trong sử thi Chăm cũng như vài nguồn sử
Việt sau này như Nguyễn Phúc tộc thì đều ghi và truyền lại rằng vua Po Rome vì
lấy vợ Việt nên cuối cùng bị trúng mỹ nhân kế của Chúa Nguyễn (Nguyễn Phúc tộc
thì lại ghi là do 2 hoàng hậu trước đố kỵ với công nữ Ngọc Khoa nên khích binh
sỹ làm loạn tiến đánh Đàng Trong) dẫn đến quân thua trong khi bản thân bị bắt
và tự sát để tránh nhục
Tuy
nhiên, thời trị vì của vua Po Rome trong sử là từ năm 1627 tới năm 1651 trong khi
theo ghi chép của Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn đang làm quan cho họ Trịnh
thù địch với họ Nguyễn cùng thời thì chỉ ghi mỗi sự kiện năm 1653 quân chúa
Nguyễn đánh bại quân Chăm, bắt vua Po Nraop (1651-1653) nhốt cũi đem về cũng
như sát nhập đất tiểu quốc Kauthara thuộc Khánh Hòa vào địa bàn Đàng Trong
Bên cạnh
đó vua Po Rome trong chính sử được mô tả là vị vua anh minh , chăm lo phát triển
kinh tế quân đội và thậm chí vua còn biết đối ngoại khi giao thiệp và cho phép
thương nhân Tây dương buôn bán tại xứ Panduranga với điều kiện là không gây
xích mích nội bộ giữa các thương nhân đến từ các cường quốc châu Âu đang thù địch
nhau
Về tôn
giáo thì vua sát nhập, dung hợp các yếu tố Bà la Môn từ trước với Hồi Giáo tới
sau để làm hình thành nên tín ngưỡng và lễ Katê sau này
Về hậu
cung thì có nguồn còn ghi hậu cung vua Porome không chỉ có 3 người mà còn thêm
1 công chúa Nam Dương
Như vậy với
các công nghiệp trên mà kết luận vua Po Rome để mất cơ đồ Champa vì nữ nhi có lẽ
là quá vội vã và không chắc chắn
Có chăng
là vua Po Rome băng hà giữa lúc quan hệ Chăm Việt đang rơi vào khủng hoảng để rồi
2 năm sau đó (1653) thì họ Nguyễn chiếm được Kauthara và tới năm 1692 thì tạm
thời bắt vua Po Saot, chiếm toàn bộ Champa cho tới khi nổ ra cuộc nổi dậy của Ốc
Nha (Okya) Thát cùng thương nhân người Mãn là A Ban đánh bại và giết 1000 quân
cùng 13 tướng của chúa Nguyễn buộc họ Nguyễn phải tái lập Champa dưới tên gọi
Thuận Thành trấn cho con thứ của Porome là Po Saktiray Daputih a.k.a Kế Bà Tử
vào năm 1693
Nền kinh
tế Champa bên cạnh nông nghiệp thì còn có khai thác lâm khoáng sản như vàng và
trầm hương và thương nghiệp, trong đó thì các ngành khai thác lâm khoáng sản
cũng như thương nghiệp rất phát triển
Trong số
các sản vật Chăm Pa thì có trầm hương với vàng là thuộc dạng nổi tiếng là nhiều
nhất
Trầm
hương của Chăm Pa được các tài liệu phương Bắc đánh giá là thuộc hạng nhì của
khu vực “Chân Lạp vi thượng, Chiêm Thành thứ chi” (trầm Chân Lạp đứng nhất, kế
là trầm hương Chăm Pa)
Về vàng
thì sau khi tướng Đàn Hòa Chi đánh bại và tràn vào kinh thành Lâm Ấp thì Champa
bấy giờ mới được phương Bắc biết đến có rất nhiều vàng và hễ cứ lần nào quân
các triều đại phương Bắc tràn vào được kinh thành của Lâm Ấp là xác định lần đó
nặng gánh trở về
Trong lần
đánh vào kinh đô Điển Xung của Lâm Ấp thì số vàng mà quân Lưu Tống cướp bóc, vơ
vét và nấu chảy lên tới hơn 100,000 cân vàng (1 cân tùy nước nhưng tương đương
khoảng 500 -600 gam)
Để có thể
duy trì được nền độc lập ngần ấy năm trước 1 bầy hổ báo cáo chồn từ Việt,
Khmer, Chà Và (Java) và cả thiên triều Trung Quốc thì các vua Chăm Pa đã biết dựa
vào quân đội của mình
Chiến
tranh với người Chăm có 2 loại là chiếm đất mở rộng bờ cõi và chinh phạt đánh
phá tiềm lực đối phương
Trong thời
kỳ đầu thì chiến tranh của Lâm Ấp - Chăm Pa chủ yếu là mở rộng bờ cõi cho tới
thời kỳ sau thì lại thiên về chinh phạt, đánh phá tiềm lực hơn
Quân đội
Chăm Pa là đội quân chuyên nghiệp được vua cấp cho lương thực và quần áo trên
cơ sở của cải thu được từ nhân dân hơn là tự túc theo chính sách ngụ binh ư
nông như ở các quân đội đương thời
Thường
thì khoản ấy gồm 2 giạ lúa (1 giạ tương đương 1 cân và bằng 20 -22 kilogram) 1
tháng cùng với 3 -5 bộ quân phục cho mùa đông và mùa hè
Bên cạnh
đó thì các cấp chỉ huy của quân Lâm Ấp – Chăm Pa cũng có nhiều hạng từ tiểu
vương (rajah) như tiểu vương Phạm Trân Trân con vua Lâm Ấp của xứ Giao Long bên
Lâm Ấp bị quân Tấn chém trong cuộc chiến năm 413 cho tới các cấp bậc thấp hơn
như Mahasenapati (Đại tướng), senapati (tướng quân), Agrasenapati (tư lệnh)…
Các cấp
này thường có lương bổng là 1 khoản tiền ngân quỹ cũng như sở hữu đặc quyền được
miễn đóng thuế và để đổi lại thì họ phải tuyên thệ trung thành với vua cho tới
chết
Nhân lực
cho quân đội Chăm Pa không chỉ gói gọn trong các tráng đinh người Chăm vùng đồng
bằng mà còn cả các dân tộc miền Tây Nguyên như người Rang Đê (khối cộng đồng Ê
đê – Jarai trước khi tan rã thành 2 nhóm Ê Đê và Jarai sau này), người Churu,
K’ho, Mạ…
Trong loạn
Kirata xảy ra năm 1149 -1150 (Kirata là tên gọi mà Chăm Pa dùng để gọi chung
các nhóm người Thượng ở cao nguyên như người Rađê, Mạ… bên cạnh cái tên
Mleccha/ người hoang dã cũng hay được người Chăm xưa dùng để gọi các nhóm người
Thượng khác ở Tây Nguyên) thì theo các nguồn, các vị thủ lĩnh người Kirata đã tập
hợp lại lực lượng và đặt họ dưới sự lãnh đạo của anh vợ kiêm đối thủ tranh
giành hoàng vị với vua Chăm Jaya Harivarman Đệ Nhất là Vamcaraja (sử Việt gọi
là Ung Minh Ta Điệp) và ra giao chiến với quân đội Chăm Pa của Jaya Harivarman
để rồi bị thất bại khiến cho Vamcaraja phải chạy sang mượn quân nhà Lý về và tiếp
tục bị thua
Trong khối
liên bang Chăm Pa thì có lẽ những cộng đồng người Tây Nguyên như Ê Đê, Jarai,
Raglai, Churu hay K’ho đóng vai trò là các chư hầu, đồng minh và cả những thủ
lĩnh phụ thuộc nhiều hơn là công dân chính chủ của vương quốc Chăm
Vai trò
này của họ vẫn còn tiếp tục mãi tới thời sau khi thái tử Harijit Chế Mân trong
cuộc chiến chống quân Mông Nguyên đã rút lên vùng Tây Nguyên, tập hợp nhân lực
người Thượng liên thủ cùng quân đội dưới trướng để kháng chiến hay các vua như
Po Rome cũng có gốc gác là người Churu trong 1 lần sang vùng của người Ê đê đã
dạm hỏi con gái tù trưởng Ê Đê…hoặc các viên tướng Hồi Giáo dưới trướng vua Po
Rome về sau đã rút về ở ẩn ở trong các khu vực của người Raglai cũng cho thấy
tính đa dân tộc và vai trò của các cộng đồng người Tây Nguyên trong khối liên
bang Chăm Pa
Ngoài ra
theo Rừng Người Thượng của Henry Maitre trong cuộc nổi dậy Ja Thak Wa
(1834-1835) thì có không ít sự tham gia của những đồng bào Tây Nguyên mà tổ
tiên họ từng 1 thời phụng sự các vua chúa Chăm Pa
Chính các
vua nhà Nguyễn cũng biết rõ điều này nên đã thi hành chính sách cộng cư da beo
cũng như dồn đẩy các palei (làng) Chăm vào các khu vực chỉ định dành riêng cho
họ cũng như di dân từ vùng khác tới định cư nhằm chặt đứt mối quan hệ cộng sinh
giữa người Chăm ở đồng bằng và các nhóm người Thượng ở Tây Nguyên nhằm chấm dứt
triệt để sự trợ giúp của người Thượng với sự tồn vong của vương quốc Champa
Thành phần
quân đội Chăm Pa gồm đủ cả bộ binh, kỵ binh, tượng binh và cả hải quân
Quy mô
quân số Lâm Ấp Chăm Pa thường là vài vạn , thường là 40,000 -50,000 người với tổ
chức đơn vị là các nhóm chiến đấu 5 người và nếu như trong nhóm có 1 đồng đội
đào ngũ thì 4 người còn lại sẽ bị tử hình
Hiệu lệnh
hành quân của quân đội Chăm Pa là tù và với trống và khi bước vào trận chiến
thì các hiệu lệnh tấn công là tiếng trống trận
Tại sa
trường, đội hình chiến đấu cơ bản của quân đội là gồm mỗi 1 chiến tượng sẽ đực
sự hỗ trợ của 5 kỵ binh cùng 30 lính bộ binh được chia làm 2 nhóm gồm 15 người ở
phía trước và 15 người còn lại ở phía sau
Quân đội
Chăm Pa được trang bị cung tên, nỏ, thương, lao và khiên mộc, dao găm...
Thương
hay lao của chiến binh Chăm Pa được làm từ gỗ củi
Ngoài ra
thì các binh sỹ Chăm Pa cũng có thể sở hữu cả dao găm Kris dài từ 15 tới 50 cm
Bên cạnh
các vũ khí cận chiến thì các binh sỹ Chăm cũng sử dụng các vũ khí tầm xa như
cung tên làm bằng tre hoặc là nỏ có mũi tẩm thuốc độc
Về giáp
trụ thì các binh sỹ Champa sử dụng giáp trụ đan bằng các tấm mây
Bên cạnh
bộ binh thì tượng binh là 1 trong các binh chủng xuất hiện từ lâu đời và có
quan trọng trong quân đội Chăm Pa
Ước tính
quân số voi chiến của Chăm Pa là khoảng 1000 con trong khi theo Odoric de
Pordenone, người từng đến thăm các thành phố Champa vào thế kỷ 14 thì số voi
chiến Champa lên tới 14,000 con
Tượng
binh Chăm trang bị gần giống loại của quân Chân Lạp khi trên lưng voi có đặt
bành và lọng che làm nơi ngồi của cấp chỉ huy
1 thớt
voi chiến Chăm Pa gồm có quản tượng ăn vận quân phục như bộ binh cùng với binh
sỹ chiến đấu được trang bị mũi lao sắt và cung tên
Voi chiến
được sử dụng trong quân đội Chăm Pa nhưng công cụ xung kích, phá vỡ hàng ngũ kẻ
thù
Trong 1 số
trận như cuộc chiến với quân Tống thời Nam Bắc Triều Trung Quốc năm 446 thì vua
Phạm Dương Mại Đệ Nhị của Lâm Ấp thậm chí đã cho triển khai voi bọc giáp (Thiết
tượng) nhằm đẩy lùi quân Lưu Tống song do voi chiến còn xanh và non nên khi gặp
người Tống cho triển khai ngựa đội lốt hình nộm sư tử thì đội thiết tượng lại tỏ
ra sợ hãi và quay đầu lại bỏ chạy, dày xéo lên quân nhà làm trận ấy quân Lâm Ấp
thua thảm
Trong số
các lực lượng chiến đấu trên bộ thì lực lượng kỵ binh là góp mặt muộn nhất
trong quân đội Champa
Thời điểm
xuất hiện của kỵ binh trong quân Chăm là vào khi 1171 khi vua Chăm bấy giờ là
Jaya Indravarman Đệ Tứ được binh sỹ Tống triều đào ngũ bị đắm tàu và dạt vào bờ
biển Chăm Pa dạy cho kỹ thuật sử dụng ngựa chiến, chiến thuật kỵ binh cũng như
kỹ thuật kỵ xạ
Tuy nhiên
do ngựa nội địa không đáp ứng được yêu cầu nên vua Jaya Indravarman Đệ Tứ sai
người sang đảo Hải Nam để mua ngựa
Ban đầu
thì họ bị người dân địa phương từ chối song sau khi người Chăm điên tiết lên,
cướp bóc, bắt bớ mọi người thì dân địa phương mới đồng ý bán ngựa và thế là bộ
phận kỵ binh Chăm Pa được hình thành từ lúc đó
Sau này
khi vua Tống biết chuyện và thiết lập lệnh cấm xuất khẩu ngựa chiến thì người
Chăm cũng đã xoay xở được 1 ít kỵ binh
Khi vua
Chăm Pa là Bàn La Trà Toàn tấn công ra Hóa Châu năm 1470 thì có 1 bộ phận không
nhỏ quân Chăm trong đợt tiến công là kỵ binh
Bên cạnh
đó thì trong lần thứ nhất hành quân kéo sang lãnh thổ đế quốc Khmer mà theo 1 số
nguồn như Cao Miên sử thì quân số lên tới hàng ngàn cỗ xe thì có thể đây chính
là những đoàn xe thồ do súc vật như trâu bò kéo dùng để vận tải quân nhu, quân
trang, quân dụng cũng như là vận chuyển luôn cả các binh sỹ ra trận
Trong
quân đội Chăm Pa , không thể không kể đến hạm đội thủy quân hùng mạnh của vương
quốc Chăm Pa, công cụ để đưa Chăm Pa lên đỉnh cao thịnh vượng và quyền lực
Dù ngày
nay, nhìn trên bản đồ thì 22 làng Chăm ở Ninh Thuận và 22 làng Chăm ở Bình Thuận
đều nằm sâu trong nội địa, cách biển ít nhất cũng vài cây só, cá biệt như palei
Pacam (Lạc Tánh) 73 miệt Tánh Linh là sâu trong vùng sơn địa núi non hơn là miền
đồng bằng ven biển song tất cả những gì hôm nay chúng ta thấy là do chính sách
của vua chúa người Việt trong quá trình đàn áp các cuộc khởi nghĩa của người
Chăm như Ja Lidong, Katip Sumat hay Ja Thak Wa thông qua cách di dời làng mạc
người Chăm vào nội địa, cô lập và ngăn cản họ có thể nhận được sự viện trợ từ
lân bang
Song sự
thật là người Chăm xưa là những thủy thủ tài ba và cự phách được chứng minh qua
các văn bản sử thi của họ về thời kỳ quá khứ huy hoàng, tung hoành trên những
ngọn sóng như Sử thi Po Riyak (Thần Sóng, Riyak nghĩa là sóng)
Thương
thuyền người Chăm xưa đã từng rong ruổi đến không chỉ phía Bắc tới các cảng thị
Trung Hoa mà phía nam còn ra tới các đảo thuộc vùng Đông Nam Á hải đảo
(Nusantara)
Vào giai
đoạn đầu thế kỷ 16, dù nước nhà đang chịu sức ép từ trò Nam tiến của người Việt
thì vua Chăm thậm chí đã phái 1 hạm đội đang chi viện cho xứ Malacca khi Hồi quốc
này đang bị quân đội Bồ Đào Nha xâm lược và áp đảo
Bên cạnh
các thương thuyền chở đầy ắp sản vật có các hải tặc người Trung Quốc, Nhật, Chà
Và thì có lẽ cũng xuất hiện thành phần cướp biển người Chăm trong số các nhóm hải
tặc từng rong ruổi trên vùng Biển Đông
Thuyền đi
biển Champa theo các thư tịch Trung Quốc được gộp chung với nhóm các thuyền
vùng Đông Nam Á ven biển – hải đảo với tên gọi chung cho nhóm này là thuyền Côn
Luân, thuyền Phiên hay thuyền Man Di như
Trong
Lãnh biểu lục dị của Lưu Hú thời Đường có miêu tả thuyền buôn Côn luân là loại
thuyền khong đóng bằng đinh sắt mà chỉ dùng sợi dây quang lang để cột như chất
keo từ cây cau vốn sẽ có tính chất là sẽ cứng lại khi khô cũng như sơn (sơn đây
là sơn mài) để trám
Điều này
cũng được xác nhận lại trong sách Nhất Thiết Kinh âm nghĩa của sư Huệ Lâm là
thuyền không dùng đinh mà chỉ dùng xơ dừa để cột và nhựa cau để tram
Trong mục
Thực Hóa Chí của Tống sử thì thuyền còn được phân ra làm nhiều loại là độc tường
bạc là thuyền lớn nhất, tiếp là ngưu đầu bạc (thuyền đầu bò) có tải trọng bằng
1/3 độc tường bạc và tam mộc bạc thì có tải trọng chỉ bằng 1/3 của ngưu đầu bạc
Ngoài ra
Chu Khứ Phi còn miêu tả loại thuyền lớn hơn có thể chở cả trăm hoặc ngàn người,
tải trọng lên tới vạn hộc (1 hộc bằng 0,1 lít,, thời Pháp thuộc thì trọng lượng
1 hộc tương đương 1 tạ), đà lái dài 3 trượng (khoảng 10m) có thể đi được vài vạn
dặm
Bên cạnh
tàu vận tải, thuyền buôn thì theo Chư Phiên Chí thì người Chăm còn đóng cả thuyền
đua với hình dáng của thuyền độc mộc có đầu mũi dài, thuôn nhọn, kích cao về
phía trước, có lòng hẹp, thân thon dài về phía sau, dễ lướt nhanh lại ít bị nước
cản
Ngoài các
loại thuyền trên thì chiến thuyền Chăm Pa gồm nhiều loại là thuyền đi sông,
thuyền đi biển hoặc loại lưỡng hợp cả 2
Thuyền
chiến Chăm Pa thì gọn nhẹ và dù không hề lớn song lại có tải trọng vừa phải khi
có thể chở được hàng chục binh sỹ, dễ dàng lướt nhanh cũng như xoay chuyển dễ
dàng khi xông trận
Các tay
chèo của chiến thuyền Chăm được gắn xuyên qua lỗ giữa tâm của các tấm khiên
dài, và có dạng lưới mắt cáo bằng mây được gắn trên thuyền với tác dụng bảo vệ
người trên thuyền
Trên các
thuyền chiến có trang bị móc cặp mạn tàu có chiều dài từ 5 tới 6,5m dùng để ném
từ mũi tàu qua mạn tàu đối phương rồi liên kết 2 tàu lại thành 1 sàn đấu giáp
lá cà của thủy quân
Ngoài
giáp lá cà trên sông thì chiến thuyền Champa cũng được trang bị 1 phần đầu gỗ
lưỡi nhọn và hơi cong ngược lên dưới tàu có tác dụng như các súc gỗ đâm thủng mạn
hay đuôi tàu địch để đánh đắm kẻ thù nếu như không thích hỗn chiến trên sông nước
Ngoài ra
thì một số Chăm thông thạo binh pháp như Chế Bồng Nga còn dùng cả chiến thuật đắp
đập xả lũ nhằm sử dụng sức nươc tấn công hạm đội kẻ thù
Bên cạnh
dùng để thủy chiến thì người Chăm còn sử dụng thủy quân như là phương tiện chuyển
quân nhanh gọn cũng như là lực lượng hỗ trợ bộ binh khi cần
Ngoài các
thuyền chiến nhẹ thì hạm đội thuyền chiến Chiêm Thành cũng sở hữu cả thuyền lớn
có trang bị tháp pháo
Quy mô hạm
đội hải quân của người Chăm là khá lớn với quy mô lên tới vài trăm thuyền trong
1 số chiến dịch như năm 431, vua Phạm Dương Mại 2 lần cho thủy quân vào cướp Cửu
Đức với hạm đội trước có hơn 100 thuyền cùng hạm đội sau do vua thân chinh đi
tiếp ứng lên tới 300 chiếc
Bên cạnh
tấn công thì người Chăm còn là những thợ xây dựng bậc thầy với những công trình
thành quách phòng thủ bằng gạch nung, bằng đá hay đất sét kiên cố vững chắc
Các thành
được miêu tả là có kích thước khá lớn với chiều dài theo hướng Đông Tây, chiều
rộng hướng nam – bắc, chu vi 8 dặm 7 bộ (1 dặm tương đương 1 lý = 550m, 1 bộ
tương đương 1,66m), cao 2 trượng ( 1 trượng tương đương 3,33m) với tường có lỗ
châu mai hình vuông và cổng thành bằng gạch, trên tường có lát ván, trên mặt
vác thì xây thang gác trong khi trên thang gác là phòng ốc và tên nữa là lầu
cao…
Sau nhiều
thế kỷ tồn tại và tranh hùng, Chăm Pa bước vào giai đoạn tàn lụi khi bị mất dần
lãnh thổ trong khi dân cư nơi đó hoặc bị đồng hóa hoặc di cư đi nơi khác
Sau khi
tái lập Thuận Thành Trấn, 1 bộ phận người Chăm di cư ra hải ngoại như Campuchia
hay Mã Lai hoặc ra đảo Hải Nam (người Utsul)
Những người
Chăm di cư qua Campuchia trở thành những lính đánh thuê người Hồi và ủng hộ vua
Nặc Ông Chân (Ponhea Chan) của Cao Miên khi vị vua này trở thành vị vua Hồi
giáo duy nhất trong lịch sử Campuchia
Tất nhiên
việc vua theo Đạo Hồi và ưu đãi những người Chăm, Chà Và theo đạo Hồi đã làm
người Khmer bản địa oán giận và họ đã mượn tay chúa Nguyễn hạ bệ vua Ponhea
Chan
Ngoài ra
trong các cuộc chiến giữa chúa Nguyễn và Cao Miên, người Chăm cũng đóng góp sức
mình ở cả 2 phe như trường hợp 1 nữ sứ xinh đẹp Cao Miên gốc Chăm là Chiêm Dao
Luật (Chiêm Dao Tân) chỉ với lời lẽ sắc bén và tuyệt kỹ “Mỹ nhân kế” của mình
đã vô hiệu hóa trước sau 2 vị tướng sừng sỏ của chúa nguyễn cầm binh tiến đánh
Cao Miên là Mai Vạn Long và Nguyễn Hữu Hào
Ngoài ra
thì 1 bộ phận dân Chăm a.k.a Côn Man mà Nguyễn Cư Trinh mang về sau khi giải
vây khỏi đại quân Cao Miên truy kích ở Vo Ta An do bởi thái độ phân biệt, kỳ thị
của Cao Miên thời sau vua Ponhea Chan đối với việc người Chăm ủng hộ các hành động
của vua Ponhea Chan đã được tái định cu ở khu vực biên giới Châu Đốc An Giang
đã tạo thành cốt lõi Chăm Islam Nam Bộ sau này
Còn về bộ
phận dân Chăm ở đất tổ miền Trung thì vướng vào cuộc chiến giữa Tây Sơn với họ
Nguyễn
Sau khi
phe Nguyễn Ánh thắng lợi, Nguyên Ánh phong ứng viên mình làm vua Thuận Thành Trấn,
duy trì thể chế tự trị ở đây dưới quyền quản lý giám sát của tổng trấn Gia Định
Mỗi khi
vua triều đình Huế cần gì thì vua Chăm ở Thuận Thành Trấn sẽ chi trả bằng hiện
vật như gỗ, lúa mà vua nhà Nguyễn cần
Sự bất
mãn về sức ép ngày càng tăng của vua nhà Nguyễn đối với Thuận Thành Trấn ngày
càng gia tăng dẫn đến các cuộc nổi dậy của người Churu ở Phố Chăm năm 1809, khởi
nghĩa Ja Lidong và phong trào Thánh chiến Katip Sumat.
Năm 1832,
Minh Mạng bãi bỏ thể chế tự trị Thuận Thành Trấn, dẫn đến khởi nghĩa Ja Thak Wa
Năm 1835,
sau khi đàn áp xong khởi nghĩa Ja Thak Wa thì Thuận Thành trấn bị bãi bỏ, vua
cuối của Thuận Thành Trấn là Po Phak The (Phó Thừa hay Nguyễn Văn Thừa) bị Minh
Mạng giết.
Chăm Pa –
quốc gia, lãnh thổ của người Chăm sau hơn 15 thế kỷ tồn tại với nhiều tên gọi
khác nhau tới đây thì chấm dứt
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét