Tài liệu thuyết minh về văn hóa Chăm tại Việt Nam (phần 4)
CHƯƠNG BA (tiếp)
Văn hóa đền tháp: Xây tháp
Người Chăm Ahier có một đặc trưng là xây tháp để thờ các thần Brahmaism, hoặc các vua thần, hoặc những vị
thủy tổ của dân tộc họ, những anh hùng dân tộc, nên nó tạo thành một đặc trưng
nổi trội nhất của nên văn hóa Chăm ở Việt Nam.
Tháp Chăm, hay còn gọi là tháp Chàm, là một dạng công trình thuộc
thể loại kiến trúc đền tháp Champa, thuộc kiến trúc tôn giáo tín ngưỡng của dân
tộc Chàm (còn gọi là dân tộc Chăm, sinh sống ở miền Nam Trung Bộ Việt Nam ngày
nay. Có thể thấy vị trí phân bố các đền tháp là những nơi từng là nơi ở của người
Champa, xa hơn nữa còn có những ngôi tháp có thể coi là tháp Champa trên đất nước
Campuchia như tháp Damray Krap. Ngược lại, những yếu tố Java hay Khmer cũng được
thấy trên các tháp Champa như ở Khương Mỹ, Hưng Thanh, Dương Long, hay có cả những
ngôi tháp còn được người Champa gọi là “tháp Khmer” như tháp Champa Hoà Lai.
Các tháp Chăm là một khối kiến trúc xây dựng bằng gạch nung màu
đỏ sẫm lấy từ đất địa phương, phía trên mở rộng và thon vút hình bông hoa. Mặt
bằng tháp đa số là hình vuông có không gian bên trong chật hẹp thường có cửa duy
nhất mở về hướng Đông (hướng Mặt Trời mọc). Trần được cấu tạo vòm cuốn, trong
lòng tháp đặt một bệ thờ thần bằng đá. Nghệ thuật chạm khắc, đẽo gọt công phu
hình hoa lá, chim muông, vũ nữ, thần thánh thể hiện trên mặt tường ngoài của
tháp. Các viên gạch liên kết với nhau rất rắn chắc, bền vững tới hàng chục thế
kỷ.
Ngày 1 tháng 10 năm 2006, Trung tâm Quản lý di tích-di sản tỉnh
Quảng Nam chính thức công bố thông tin: các nhà khoa học của Đại học Milan, Ý
khi đang làm việc trùng tu nhóm tháp G-thuộc Thánh địa Mỹ Sơn đã nhận biết được
loại vật liệu kết dính để xây tháp Champa cách đây vài triệu năm. Đó là loại
keo được tinh chế từ một loài thực vật vốn có rất nhiều trong khu vực quanh di
sản Mỹ Sơn, mà người dân địa phương thường gọi là cây dầu rái. Ngoài ra, họ
cũng đã phát hiện ra một loại hợp chất có nguồn gốc từ thực vật bản địa nói
trên có trong gạch sử dụng để xây tháp. Như vậy, những điều bí ẩn xung quanh vật
liệu được người Chăm sử dụng để xây dựng các công trình tôn giáo ở Việt Nam sau
hơn 100 năm đã được giải mã. Trước đó, một người thợ thủ công tên là Lê Văn Chỉnh
(thuộc tỉnh Quảng Nam) cũng đã bỏ nhiều thời gian để nghiên cứu phương pháp xây
dựng tháp Chăm đã phát hiện được hợp chất dầu rái trong gạch để xây tháp và chất
dính
Theo quan niệm của người Chăm, đền tháp là nơi tôn nghiêm, linh
thiêng, nơi cầu đáo thần linh, người dân bình thường không được lui tới, chỉ có
những tu sỹ Bàlamôn, những người thuộc tầng lớp quý tộc Chăm mới được đến và cử
hành lễ (Lê Tuấn Anh, 2004: 176)
Hầu hết các tháp Chăm đều xây dựng gần giống đền tháp ở Ấn Độ,
Ăngkor (Campuchia) nằm trên những ngọn núi cao, bao quanh bởi đồi núi, được che
chắn, bảo vệ bằng những thành lũy tự nhiên hiểm trở (giữa các đồi núi có thung
lũng, sông , suối…).
Đền tháp Champa thường đứng một mình (tháp Nhạn, tháp Thủ Thiện)
hoặc được xây dựng thành cụm (khu đền tháp Mỹ Sơn). Kết cấu mỗi cụm gồm một đền
thờ chính (Kalan), xung quanh có những đền nhỏ hoặc công trình phụ. Ngôi đền
chính (thường nằm giữa một cụm đền tháp) tượng trưng cho núi Meru – trung tâm
vũ trụ – là nơi hội tụ của thần linh nên được thờ một bộ Linga biểu tượng của
thần Siva. Các đền tháp còn lại có công năng khác như tháp cổng (tháp Đồng
Dương), có hai cửa thông nhau theo hướng đông – tây, đền phụ (miếu phụ) thờ các
vị thần trông coi hướng trời, các công trình làm nơi chuẩn bị lể vật trước khi
hành lễ hoặc kho cất giữ đồ tế lễ…Những tháp phụ thường có mái hình thuyền úp,
lợp ngói hoặc ghép gạch (tháp phụ ở tháp Bánh Ít, Chiên Đàn). Đặc điểm đền thờ
của người Chăm thường không có cửa sổ, nếu tháp nào có cửa sổ thì đó là công
trình phụ (Lê Tuấn Anh, 2004: 181 – 182).
Các đền tháp thường được gia cố phần đế móng khá kỹ bằng những lớp
cát, đá cuội, đá dâm. Tường, mái là những viên gạch và những chi tiết trang trí
bằng đá sa thạch được xếp khít với nhau, không nhìn thấy mạch vữa ở giữa. Dù thời
tiết rất khắc nghiệt nhưng hàng nghìn năm qua mà những công trình này vẩn không
bị lún, nứt hay đổ vỡ (chỉ bị sụp đổ do con người – chiến tranh, phá hủy…),
không có rong rêu bám phủ trên tường tháp (trong khi những mảnh tường gạch mới
được phục chế vào cuối thập kỷ 20 đã bị rêu bám). Cho đến nay vẫn chưa có công
trình nghiên cứu nào xác định được chính xác chất kết dính giữa các viên gạch
hay các chi tiết bằng đá là gì (Lê Tuấn Anh, 2004: 182). Lueba (1923) cho rằng
người Chăm đã dùng gạch mộc chồng khít lên nhau rồi nung toàn bộ tháp. Theo Ngô
Văn Doanh (1978) thì vữa là nước cây xương rồng trộn với mật mía. Trần Kỳ
Phương (1980) thì cho rằng đó là nhựa cây dầu rái. Hoặc được xây bằng vữa đất
sét rồi nung lại (Awawrzenczak và Skibinski, 1987). Cũng có ý kiến cho tháp được
xây bằng cách mài và xếp khít gạch (mài chập) (Trịnh Cao Tưởng, 1985 hoặc Nguyễn
Văn Chỉnh) hay mài xếp phần vỏ và sử dụng vữa là bột mịn có độ nung như gạch
xây tháp trộn với nước tạo nên (Lê Đình Phụng, 1990) (Hà Văn Tấn, 2002: 335) .
Bên cạnh việc dùng nhựa cây, người Chăm còn dùng nhớt của các loại lá cây: ô dước,
bời lời, dâm bụt,…(Trần Bá Việt, 2007: 96) . Các ý kiến trên đều có phần đúng
nhưng vẫn chưa có ý kiến nào được giới khảo cổ học chấp nhận.
Một ngôi tháp thường có kết cấu 3 phần: đế, thân và mái. Theo
quan niệm của người Chăm, đế tháp tượng trưng cho đế thế giới trần tục; thân
tháp tượng trưng cho thế giới tâm linh, nơi con người gột rửa bụi trần, thoát tục
để tiếp xúc với tổ tiên và hòa nhập với thần linh; còn mái tháp thì tượng trưng
cho thế giới thần linh.
Đế tháp: thường được xây trên nền hình vuông hoặc hình chữ nhật,
bằng gạch hoặc bằng đá phiến to (tháp B1 ở khu đền tháp Mỹ Sơn). Xung quanh đế
được trang trí theo môtip hoa văn, hình con thú, hình người cầu nguyện đứng
trong các vòm cuốn nhỏ, mặt quái vật (Kali), thủy quái (Makara) hay các vũ nữ,
nhạc công…
Thân tháp: thường được ghép hoàn toàn bằng gạch, tường rất dày
(độ dày thường trên dười 1 mét), chiều cao ở mỗi đền tháp khác nhau. Cửa ra vào
có trụ, lanh tô bằng đá. Mặt ngoài thân tháp được trang trí rất đa dạng: trụ áp
tường, cửa giả thường có hình vòm cuốn mềm mại, bên trong vòm cuốn chạm rồi các
hình trang trí, thường thấy là hình người đứng chắp tay cầu nguyện thành kính.
Hầu hết các đền tháp có cửa chính quay về hướng đông (hướng của
thần Sấm Sét Indra). Một số đền có cửa chính hướng tây hoặc thêm cửa hướng tây
(hướng mà các vị vua Champa thường chọn cho mình khi rời cõi trần thế để về với
sự thanh cao). Mặt tường phía trong lòng để trơn, ở những ngôi đền chính thường
có một số ô trên tường làm nơi đặt đèn. Không gian trong đền chật chội, thiếu
ánh sáng. Một đài thờ biểu tượng thần Siva (bộ Linga) đặt chính giữa nền, chiếm
gần hết diện tích và chỉ chừa một lối hẹp xung quanh để hành lễ.
Mái tháp: thường được cấu tạo nhiều tầng, càng lên cao càng thu
hẹp. Ở nhiều đền tháp, tầng trên thường được mô phỏng đầy đủ cấu trúc cửa, các
chi tiết như tầng dưới. Môtip trang trí rất đa dạng: tượng, vật cưỡi của các vị
thần trong Ấn Độ giáo như: chim thần, ngỗng thần, bò thần, voi, sư tử…các đường
gờ, cột ốp hay hoa văn. Tại các góc thường có mô hình tháp nhỏ hay vật trang
trí phụ bằng đá hoặc gạch. Những tháp phụ, mái thường có hình thuyền úp, phần
trang trí không cầu kỳ.
Đỉnh mái có hai dạng, hình chóp nhọn và hình thuyền. Vật liệu
làm đỉnh tháp có khi là một khối đá tạo thành hình chóp hoặc bằng gạch ghép lại
(Lê Tuấn Anh, 2004 : 184 – 185).
Lễ Ka-tê:
Trước năm 1965, Kate chỉ là một lễ tục trên đền tháp, có sự hiện
diện của một số tín đồ người Chăm Ahier, rất là thưa thớt. Vì theo phong tục,
dâng hiến lễ vật cho thần linh trong ngày Kate trên đền tháp không phải là sự
bó buộc. Chính vì thế, quang cảnh Kate trước năm 1965 không mấy linh đình và
không có nhiều quần chúng và khán giả tham dự.
Vào năm 1965, ông Dương Tấn Sở lúc đó là quận trưởng quận An Phước
đề nghị với các chức sắc Ahier cho phép đưa vào lễ tục Kate phần văn nghệ để
đón chào phái đoàn Việt Nam đến viếng thăm dân tộc Chăm nhân dịp Kate. Kể từ đó,
lễ tục Kate có thêm phần lễ hội, rồi về sau càng ngày càng phong phú, linh đình
và phát triển cho đến hôm nay.
Nói đến lễ hội Kate, thì người ta phải nói đến bản sắc văn hóa
mang tính cách quần chúng của nó. Chính vì thế, bất cứ ai, dù họ là người Chăm hay
người Việt, bất cứ hội đoàn nào hay cơ quan nhà nước cũng có quyền tham gia hay
tổ chức lễ hội này. Tại Việt Nam hôm nay, có rất nhiều lễ hội nhân ngày Kate.
Nhưng lễ hội linh đình nhất là lễ hội được tổ chức đặt dưới quyền bảo trợ của
cơ quan văn hóa nhà nước nhằm tôn vinh bản sắc văn hóa của dân tộc Chăm qua các
phần văn nghệ, thể thao, diễn hành, v.v. để đón mừng ngày Kate, chứ không phải
là lễ hội mang một ý nghĩa chính trị nhằm kỷ niệm anh hùng liệt sĩ Champa.
Một khi lễ hội Kate được định nghĩa như ngày văn hóa quần chúng,
thì mỗi người Chăm dù họ là Chăm Awal hay Chăm Ahier đi nữa có quyền chọn lựa
tham gia hay không tham gia vào lễ hội Kate này, tùy theo hoàn cảnh, ý muốn và
sở thích của họ. Và sự chọn lựa tham gia lễ hội Kate của họ không gắn liền với
yếu tố lịch sử hay ý nghĩa chính trị của lễ hội đó mà là tùy thuộc vào không
khí tưng bừng, nội dung văn hóa cao và phong phú của lễ hội do ban tổ chức đề
ra. Sự khác biệt về số lượng khán giả trong ngày Kate tại đền Po Klaong Garai
và Po Romé là thí dụ điển hình.
Nếu Kate tại Việt Nam hôm nay đã trở thành một ngày lễ rất trang
nghiêm trong phần lễ tục và rất linh đình và nhộn nhịp qua phần lễ hội, là vì
Kate được tổ chức trong biên giới cổ truyền của nó, từ ý nghĩa của lễ tục cho đến
nội dung của lễ hội, không mang nội dung chính trị, không trang điểm màu sắc
văn chương đấu tranh, không bài diễn văn và cũng không có lời cảm tưởng, cảm tạ,
cám ơn, v.v. chỉ làm phiền hà quần chúng đang chờ xem lễ hội.
Mặc dù lễ hội Kate gắn liền với lễ tục tín ngưỡng của Chăm
Ahier, nhưng số lượng người Chăm Awal tham gia trong ngày lễ hội Kate tại quê
nhà hôm nay rất đông đảo. Sự hiện diện của họ đã chứng minh rằng dù Kate là lễ
tục của Chăm Ahier nhưng đã trở thành di sản văn hóa chung của vương quốc
Champa mà mỗi người Chăm phải có bổn phận bảo tồn và phát triển. Nhưng tham gia
lễ hội Kate không gắn liền với ý nghĩa chính trị mang màu sắc chủ nghĩa quốc
gia. Thành vậy dân tộc Chăm Ahier hay nhà nước Việt Nam không có quyền lên án
hay kết tội những người Chăm nào không đến tham gia lễ hội Kate này. Nếu cuộc vận
động biến Kate thành ngày quốc lễ Champa không còn sắc thái lễ tục hay lễ hội
Kate truyền thống nữa, thì đây chỉ là chủ trương của một nhóm người Chăm tại hải
ngoại, chứ không phải chủ trương của toàn dân tộc Chăm hôm nay[40].
Lễ hội Katé được tổ chức mỗi năm một lần vào tháng 7 lịch Chăm
nhằm để tưởng nhớ các vị Nam thần như Po Klaong Garai, Po Romé… Lễ hội được diễn
ra trên một không gian rộng lớn từ đền tháp (bimong- kalan) – làng (palei) – đến
gia đình (sang danaok). Lễ hội được lần lượt tổ chức theo thứ tự trước sau tạo
thành một dòng chảy của lễ hội Chăm phong phú, đa dạng.
Lễ hội Katé là một lễ hội dân gian đặc sắc nhất trong kho tàng
văn hóa của người Chăm. Nơi ấy chính là tấm gương phản chiếu sinh hoạt của một
cộng đồng, là nơi hội tụ những giá trị, tinh hoa văn hóa. Do đó lễ hội không những
gắn với đền tháp cổ kính – nơi ngưng tụ những gía trị kỹ thuật và mỹ thuật cao
nhất của nền văn hóa Chăm mà còn đem đến một phần khác của văn hóa như đồ cúng
tế, y phục, nhạc cụ; những bài thánh ca, ca ngợi các vị vua hiền có công với
dân, với nuớc và hát kể về công việc đồng án, mùa màng, sản vật trăm hoa trăm
quả trăm nghề. Lễ hội còn xuất trình trước công chúng một nền nghệ thuật ca-
múa- nhạc dân gian mang một phong cách riêng biệt, độc đáo.
Lễ hội Katé là giây phút thiêng liêng của người Chăm hành hương
về cội nguồn dân tộc, đánh thức tháp Chăm cổ kính lặng ngủ dưới lớp bụi thời
gian bừng dậy, sáng loà, tỏa ra trăm sắc ngàn hương trong vườn hoa văn hóa của
đại gia đình các dân tộc Việt Nam.
Nội dung và ý nghĩa cuả Lễ hội Katé
Lễ hội Katé được tổ chức mỗi năm một lần vào tháng 7 lịch
Chăm.Ðây là lễ hội của người Chăm nhằm tưởng nhớ cá vị Nam thần như Po Klaong
Garai, Po Romé… Và tưởng nhớ ông bà tổ tiên , trời đất đã phù hộ độ trì cho con
người.
Lễ hội Katé là biểu hiện một nữa cấu trúc lưỡng hợp thuộc về
dương đối lập với yếu tố âm – Lễ Cabur (lễ cúng các vị Nữ thần vào tháng 9 lich
Chăm). Sự đối lập, liên kết giữa Nam thần (po) – Nữ thần (bia), Trời – Ðất (lingik-
tanah), Ðực – Cái (likei – kumei), Mẹ – Cha (ama- amaik), Tối – Sáng hoặc Mặn –
Lạt (yuer – klam)… là nét đặc trưng phổ quát trong nền văn hóa Chăm được thể hiện
sâu sắc trên nhiều bình diện như nghi lễ hội hè, ăn mặc, màu sắc cho đến loại
hình biểu diễn nghệ thuật khác. Tất cả những yếu tố trên toát lên nội dung, hàm
chứa một ý nghĩa phồn thực với sự liên kết lưa đôi, cầu mong cho sự sinh sôi nảy
nở của con người, vật nuôi, cây trồng … Bản thân lễ hội Katé chứa đựng cốt lõi
nội dung và ý nghĩa ấy.
Không gian của lễ hội Katé
Katé là lễ hội lớn của cộng đồng người Chăm. Lễ hội được diễn ra
trên một không gian rộng lớn từ đền tháp (bimong – kalan) – làng (palei) – đến
gia đình (sang danaok). Lễ hội được lần lượt tổ chức theo thứ tự trước sau tạo
thành một dòng chảy của lễ hội Chăm phong phú, đa dạng. Trình tự diễn ra lễ hội
Katé người Chăm như sau :
Katé ỏ Đền- Tháp Chăm
Đền Po Nagar ở thôn Hữu Đức
Lễ đón rước y phụ Po Nagar diễn ra ở đây từ lúc 12h00 đến 13h00
cùng ngày thì kết thúc. Ðịa điểm tại thôn Hữu đức, xã phước Hữu, huyện Ninh Phuớc,
tỉnh Ninh Thuận , cách thị xã Phan Rang 12km về hướng Tây Nam. Ðây là lễ đón rứơc
y phục của Nữ thần Po Nagar- Thần mẹ xứ sở của người Chăm gắn liền với nhiều
huyền thoại, truyền thuyết. Chính Nữ thần là thủy tổ của người Chăm, đã dạy người
Chăm trồng lúa, trồng bông dệt vải, và dạy cho người làm lễ hội như ngày nay. Lễ
diễn ra tại một ngôi Ðền thờ (Danaok) trong làng – Ðền được xây dựng vào 1942.
Nơi đây, du khách sẽ chứng kiến cuộc đón rước, trao báu vật của Nữ thần và giao
lưu văn hóa giữa người Chăm và người Raglai.Tuy nhiên rất tiếc, hai ngôi tượng
của Nữ thần bằng đá đã bị mất cắp vào năm vào 1997 (tượng Adakan, cao 0,80 m, nặng
khoảng 100 kg, có niên đại thế kỉ 9 và tượng Po Tâh, cao 0,50m được làm bằng
ximăng 1955).
Tháp Po Klaong Garai
Lễ diễn ra bắt đầu từ lúc 8h30 đến 14h00 cùng ngày kết thúc.
Tháp Po Klaong Garai nằm trên ngọn đồi trầu (cék hala) thuộc phường Đô Vinh,
cách trung tâm thị xã Phan Rang – Tháp Chàm 9 km về phía Tây Bắc. ThápPo Klaong
Garai là một tổng thể kiến trúc nghệ thuật bao gồm 3 ngôi tháp: Tháp chính
(kalan po) cao 20,5m bên trong có thờ một tượng vua Po Klaong Garai bằng đá dưới
hình thể Mukhaling (Linga có gắn mặt thần chủ) và một tượng Bò Nandin bằng đá ở
lối ra vào; Tháp cổng (kalan tabah mbang) cao khoảng 8,56 m; tháp lửa (sang cuh
yang apuei) cao 9,31m.Ngoài ra ở phía sau tháp chính còn có một ngôi miếu nhỏ
thờ một phiến đá. Xung quanh tháp được bao bằng một vòng thành.Tháp đượcngười
Chăm xây dựng vào cuối thế kỷ 12 đầu thế kỷ 13 để thờ vị vua Po Klaong Garai
(1151 – 1205) – một vì vua có công với dân, với nước, được người Chăm suy tôn
thành thần thủy lợi. Tháp Po Klaong Garai là một cụm tháp hoàn mỹ, đã đạt đến đỉnh
cao rực rỡ trong nền nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc Champa. Tháp được Bộ Văn
Hóa xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật vào năm 1979. Chính vì vậy, nơi đây
đã trở thành trung tâm thu hút cộng động người Chăm Ninh Thuận trong ngày Hội
Katé hàng năm.
Tháp Po Romé
Lễ diễn ra bắt đầu từ lúc 8h30 đến 14h00 cùng ngày kết thúc (lễ
hội được diễn ra cùng ngày cùng giờ với tháp Po Klaong Garai).Tháp Po Romé nằm
trên một ngọn đồi “buen acaow” thộc thôn Hậu Sanh, xã Phước Hữu, huyện Ninh Phước,
tỉnh Ninh Thuận, cách thị xã Phan Rang- tháp chàm 15 km về phía Tây Nam. Tháp
Po Romé được xây dựng vào thế kỷ 17 để thờ vị vua Po Romé.Tháp là tổng thể kiến
trúc gồm có 3 ngôi tháp: Tháp chính, tháp cổng và tháp lửa. Nhưng hiện taị chỉ
còn lại một ngôi tháp chính cao 19m bên trong có thờ một tượng vua Po Romé bằng
đá dưới hình thể Mukhalinga và một tượng thờ hoàng hậu Bia Than Can bằng đá –
người Eđê. Phía sau tháp chính còn có một ngôi miếu nhỏ thờ tượng Hoàng hậu Bia
Than Cih bằng đá – người Chăm. Cả hai tượng đã bị mất vào 1993 và 1994. Còn hai
ngôi tháp: Tháp cổng và tháp lửa đã sụp đổ. Tháp Po Romé không cao to bề thế
như tháp Po Klaong Garai nhưng tháp có một phong cách nghệ thuật kiến trúc
riêng biệt- Phong cách Po Romé . Tháp Po Romé được xem la ngôi tháp cuối cùng
trong lịch sử nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc đền tháp của người Chăm ở Việt
Nam. Tháp Po Romé còn gắn liền với vị vua Po Romé có nhiều huyền thoại, truyền
thuyết trong mối tình sử bi đát giữa vua Po Romé với công chúa người Eđê- Bia
Than Can và công chúa Ngọc Khoa nước Ðại việt. Tháp Po Romé được Bộ Văn Hóa xếp
hạn di tích kiến trúc nghệ thuật năm 1992.
Diễn tiến lễ Katé ở tháp Chăm
Lễ hội Katé của người Chăm Ninh Thuận diễn ra ở 3 đền tháp: Ðền
Po Nagar ( Hữu đức ), Tháp Po Romé ( Hậu sanh )và Tháp Po Klaong Garai ( Ðô
vinh, Tháp chàm ). Lễ diễn ra ở cả 3 nơi cùng ngày cùng giờ. Các nghi lễ cơ bản
như nhau về nội dung , nghi thức hành lễ. Tuy lễ hội diễn ra ở 3 nơi nhưng thu
hút được nhiều tín đồ nhất, tổ chức qui mô nhất vẫn là lễ hội Katé ở tháp Po
Klaong Garai.
Tiến trình lễ hội theo các bước như sau:
Lễ hội Katé tại đền tháp được điều hành bởi Ban tế lễ bao gồm :
– Po Adhia (cả sư Chăm Ahier) trụ trì đền tháp làm chủ lễ
– Kadhar (thầy kéo đàn Rabap) hát thánh ca
– Muk Paya, bà múa và dâng lễ vật lên các vị thần
– Camanei ( ông từ giữ đền tháp) chủ trì lễ tắm tượng
– Và cùng một số Basaih (Tu sĩ Chăm ahier) phụ lễ.
Lễ vật dânng cúng Katé tại đền háp bao gồm :
– 01 con dê
– 03 con gà làm lễ tẩy uế đất tháp
– 05 mâm cơm, canh cúng với thịt dê
– 01 mâm cơm với muối vừng ( lithey thap)
– 03 cổ bánh gạo và hoa quả
– Ngoài ra còn có rượu trứng, trầu cau, xôi chè …
Sau khi lễ vật đã chuẩn bị xong, ban tế lễ đã sẵn sàng thì lễ hội
bắt đầu tiến hành theo các buớc sau:
Lễ rước y phục (Rok aw khan po yang)
Tất cả các y phục của vua chúa thờ ở đền tháp Chăm đều do người
Raglai cất giữ. Do vậy khi đến ngày lễ Katé thì người Chăm phải làm lễ đón rước
người Raglai chuyển y phục về lại các đền tháp Chăm. Ðây là nghi lễ mở đầu cho
ngày hội diễn ra rất trọng thể. Lễ rước y phục diễn ra ở 3 đền tháp: Ðền Po
Nagar (Hữu đức), Tháp Po Romé (Hậu Sanh) và tháp Po Klaong Garai ( Ðô Vinh,
Tháp Chàm). Trong đó lễ đón rước y phục Po Nagar diễn ra vào buổi chiều ngày
26/ 9/ 2000, trước ngày hội chính thức ở đền tháp một ngày. Còn lễ đón rước y
phục ở tháp Po Romé và tháp Po Klaong Garai thì diễn ra vào buổi sáng ngày 27/
9/2000. Mặc dù 03 đền tháp tổ chức nghi lễ đón rước y phục trong thời gian khác
nhau nhưng nghi thức hành lễ cơ bản đều giống nhau. Ở đây chỉ mô tả lại lễ đón
rước y phục cuả vua Po Klaong Garai từ đền thờ vua Po Klaong Garai tại thôn Phước
Ðồng (Phuớc Hậu – Ninh Phước) đến tháp Po Klaong Garai trong ngày lễ Katé năm
1998.
Trong ngày Lễ rước y phục Po Klaong Garai vào buổi sáng tại đền
thờ Po Klaong Garai ở Phước Đồng, đoàn người Raglai đã tập trung đầy đủ, ông
Camanei (ông từ giữ đền) dâng cúng lễ vật rượu trứng xin phép thần cho rước y
phục về tháp Po Klaong Garai cúng lễ. Khi lễ đón rước kết thúc thì y phục vua
Po Klaong Garai được đưa lên kiệu để đưa về tháp Po Klaong Garai. Trật tự đoàn
rước lễ được sắp xếp như sau: Dẫn đầu đoàn là 05 người Raglai; tiếp theo là cả
sư (Po Adhia) chủ trì đền tháp Po Klaong Garai; Thầy Kadhar keó đàn ka nhi;
Payau ; Ðội vũ nhạc ; ở chính giữa là kiệu khiêng y phục vua Po Klaong Garai;
hai bên là những người cầm cờ và cuối cùng là đoàn người phụ lễ đi theo.
Ðoàn rước đi trên con đường dài 4km, từ thôn Phước Đồng đến tháp
Po Klaong Garai. Khi đoàn rước kiệu về đến tháp Po Klaong Garai thì đội múa lễ
của đoàn múa mừng trước tháp. Ðây cũng là điệu múa mừng khi kết thúc một công
đoạn trong nghi thức hành lễ người Chăm.
Lễ mở cửa tháp (Péh mbang yang):
Sau khi kết thúc Lễ rước y phục thì các tu sĩ xin phép thần Siva
làm lễ mở cửa tháp. Lễ này đượcdiễn ra trước cửa tháp, được sự điều hành bởi cả
sư (Po Adhia) và ông Camanei. Lễ vật cúng xin mở cử tháp gồm có: rượu trứng, trầu
cau, nước tắm thần có pha trầm hương và cá hương vị khác. Trong không khí trang
nghiêm thầy cúng tế hát cầu lễ thần linh như sau:
Jhaok aia di kraong praong,
klah ba maraila ai ngap di yang Po
Maâk jiep ba marai ka Po njam takai,
ni ngap yau nan klau mbang
Lấy nuớc từ sông lớn
Đem về tháp tắm thần
Thần là thần của trời đất
Lấy khăn đem đến cho thần lau chân
Làm như thế ba lần
(Các đoạn thơ được trích và dịch theo kinh hành lễ Katé Chăm)
Sau khi đọc xong lời cầu nguyện Camanei cầm lọ nước tắm thần tạc
lên tượng phù điêu thần Siva trên vòm cửa chính của tháp.Tiếp đó, thầy Kadhar
kéo đàn Rabap và Payau tiến đến trước cửa tháp chính ngồi bên tượng bò thần
Nandin để hát lễ xin mở cửa tháp. Lời hát lễ có đọan sau :
Cuk [< cuh] dhuk pahuel gihlau,
Peùh bi-mbang yang bitau yang Po laong Garai la ayet
Cuk dhuk klaong ba ka-mbah hala,
Peùh bi-mbang yang Po Klaong Garai la a yet
Đốt bệ xông hương trầm
Mở cửa đá tháp Po Klaong Garai ayet
Đốt bệ trầm con mang trầu lễ
Mở cửa đá tháp Po Klaong Garai ayet
Khi đoạn hát lễ kết thúc, thì đòan lễ tiến vào tháp, bà Payau và
ông Camanei bắt đầu mở cửa tháp trong khói hương trầm toả ra nghi ngút. Lễ mở cửa
tháp kết thúc.
Lễ tắm tượng thần (Manei yang)
Lễ tắm tượng thần được diễn ra bên trong tháp. Lễ này gồm có Po
Adhia, thầy Kadhar keó đàn Rabap, bà Payau, ông Camanei và một số tín đồ nhiệt
thành thực hiện. Khi mọi người đã ngồi vào bàn lễ, xung quanh bệ thờ thần thì
bà Payau rót rượu dâng lễ, thầy Kadhar kéo đàn Rabap bắt đầu hát lễ theo. Bài
hát lễ tắm thần có đọan:
Jhaok aia di kraong,
ndua marai manei Po Klaong Garai
Jhaok aia di kraong,
klah ba marai manei yang Po Klaong Garai
Maâk jiep njam ka Po njam trik,
Po nao liwik di sap [
Múc nước ở sông,
Đội đến tắm thần Po Klaong Garai
Múc nước từ sông,
Đem tắm thần Po laong Garai
Thần đi lâu ngày lấy khăn lau mồ hôi (cho thần)
Trong tháp, khi thầy Kadhar kéo đàn Rabap đang hát thì ông từ cầm
lọ nước tắm lên pho tượng đá, mọi người bắt tay cùng nhau tắm thần. Lúc này những
tín đồ nhiệt thành lấy nước từ trên thân tượng bôi lên đầu, lên thân thể mình để
cầu sức khỏe, tài lộc, may mắn.
Lễ mặc y phục cho tượng thần (Anguei khan aw Po yang):
Sau khi lễ tắm thần kết thúc thì đến nghi lễ mặc áo cho thần. Lễ
thức được tiến hành theo lời hát thánh ca của thầy Kadhar. Lời thầy hát lễ đến
đâu thì y phục thần được mặc vào đến đó. Ðầu tiên là lễ mặc váy. Lời thầy hát lễ
như sau:
Danaây aia lek di cek,
Po Klaong kraân jih tamun di aia tagaok manei
Danaây aia laik di tuel,
Yang Po Klaong Garai kraân talei ka-ing jih tamun di aia tagok
manei
Danaây aia laik di kraong sa [
Yang Po Klaong Garai kraân cuk aw lita di aia tagok manei)
Nghe tiếng thác đổ trên núi
Thần Po Klong Garai mặc váy viền hoa jih tamun lên tắm
Tiếng thác đổ xuống vịnh sâu
Thần Po Klaong Garai thắt dây lưng hoa Jih tamun lên tắm
Tiếng thác đổ xuống sông lớn
Thần Po Klaong Garai mặc áo liat về dự lễ.
Khi thầy Kadhar kéo đàn Rabap hát thì ông Camanei, bà Payau mặc
váy, áo cho tượng thần. Cứ như vậy cho đến kết thúc bài hát.
Ðại Lễ (Maliéng yang)
Sau khi lễ macë y phục hoàn tất, lúc này tượng thần đã mang trên
mình bộ long bào lộng lẫy, thì cũng là lúc vật dâng cúng được bày ra trước bàn
thờ. Ðại lễ bắt đầu, lúc này Po Adhia làm chủ điều khiển nghi lễ, ba Payau dâng
lễ vật, thầy kadhar kéo đàn Rabap hát mời các vị thần về dự lễ. Các vị thần được
mời là các vị thần có công với dân với nước được dân làng ngưỡng mộ suy tôn như
thần Po Nagar (thần mẹ xứ sở), thần Po Klaong Garai ( Vua Chăm trị vì năm 1151
– 1205), Po Romé (1627 – 1651), Po Par… Mỗi vị thần được mời về dự thì bà Payau
dâng lễ vật, thây Kadhar kéo đàn Rabap hát bài thánh ca, bà con dự lễ chấp tay
cầu thần phù hộ độ trì cho nên công của. Lời hát lễ cuả thầy Kadhar có đoạn như
sau :
– Hát về Nữ thần Po Nagar:
Thần là Nữ thầ xứ sở vĩ đại
Thần sinh ra đất nước con người
Thần mẹ cho trần gian cuộc sống
Thần cho cây cối tốt tươi con người nảy nở
Thần mẹ sinh ra cây lúa ruộng vườn tốt tươi
– Hát về thần Po Klaong Garai :
Vào canh một, canh hai
Po Klaong Garai hiện về hưởng lễ vật
Vào canh hai, canh ba
Po Klaong Garai hiện về hưởng lễ vật
Ngài Po Klaong Garai dựng lên tảng đá vĩ đại
Ngài đem ngăn sông đắp đập giữa núi
Dân làng phủ phục, tôn vinh ngài làm vua
Xây tháp, tạc tượng thờ thần Po Klaong Garai
– Hát mời thần Po Romé:
Nước tràn về đập vỡ ra,
Po Romé hiện về đắp đập giữ nước,
Thần dẫn nước vào ruộng cho dân làng cày cấy
Nước về đập vỡ ào ra,
Trai làng chất đá đắp đập ngăn sông
Trai làng bơi thuyền trên sông nước,
Hoàng hậu tắm mình trong dòng nước mát trong lành
– Hát về thần Po par :
Em lên cao nguyên đã lâu
Nhớ hái rau rừng đem vê cho anh
Em lên vùng núi đã lâu
Nhớ chặt cây trúc đẹp làm ống rượu cần cho anh.
(Xem bài hát lễ bằng tiếng Chăm trong sách Sakaya, Lễ hội của người
Chăm, Nxb VHDT, Hà Nội -2003)
…….
Cứ như thế thầy Kadhar kéo đàn Rabap mời trên 30 vị thần về dự ,
mỗi vị thần là một bài hát lễ. Po Adhia làm phép đọc kinh cầu nguyện xin thần về
hưởng lễ vật mà phù hộ độ trì dân làng. Kết thúc phần đại lễ bằng vũ điệu múa
thiêng cuả bà Payau.
Trong lúc bà Payau xuất thần điệu múa thiêng trong tháp để kết
thúc đại lễ thì bên ngoài bắt đầu dân làng mở Hội. Những điệu trống Ginan, kèn
Saranai cùng vang lên, đánh nhịp say xưa với những điệu múa và dòng dân ca
Chăm. Không khí Hội cứ thế mà náo nhiệt cho đến lúc mặt trời ngã về chiều thì lễ
hội Katé trên các tháp Chăm kết thúc.
Lễ hội Katé ở làng
Sau khi lễ Katé ở tháp kết thúc, không khí Hội lại bùng lên ở
làng Chăm. Đặc biệt, hai làng nghề Chăm (làng dệt Mỹ Nghiệp và làng gốm Bầu
Trúc) là sôi động hơn cả so với những hội ở làng Palei Chăm khác.
Lễ hội Katé ở làng Chăm Mỹ Nghiệp
Lễ Katé ở làng dệt Mỹ Nghiệp bắt đầu diễn ra từ 13h00 –
21h00 Đây là làng thuộc thị trấn Phước
Dân , huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận, cách thị xã 12km về phía Ðông Nam.
Làng Mỹ Nghiệp có tên Chăm là Caklaing, theo truyền thuyết đây là nơi sinh ra vị
vua Chăm Po Klaong Garai. Làng còn có nghề dệt thủ công truyền thống nổi tiếng
có lịch sử phát triển lâu đời. Ðây là nghề”mẹ truyền con nối”, hiện nay có hơn
95% gia đình làm nghề dệt. Mặc dù là nghề thủ công, dệt vải bằng tay nhưng người
thợ dệt đã đạt đến trình độ điêu luyện, tinh xảo. Sản phẩm dệt được du khách
trong và ngoài nướcưa chuộng. Trong ngày lễi Katé, làng Chăm Mỹ Nghiệp, ngoài tổ
chức lễ dâng cúng thần làng, tổ sư nghề dệt và tổ tiên, còn tổ chức nhiều trò
chơi như thi dệt vải, đội nước, đá bóng, văn nghệ.,v.v phục vụ du khách.
Lễ hội Katé làng Bầu Trúc
Lễ Katé ở làng gốm Bầu Trúc cũng bắt đầu diễn ra từ 13h00 –
21h00 , Làng thuộc thị trấn Phước Dân, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận, cách
thị xã 10km về phía Tây Nam. Làng Bầu Trúc có tên Chăm là Hamu Craok, theo truyền
thuyết đây là quê hương Po Klaong Can, bạn vua Po Klaong Garai. Làng còn có một
nghề dệt thủ công truyền thống nổi tiếng có lịch sử phát triển lâu đời. Ðây là
nghề”mẹ truyền con nối”, hiện nay có hơn 95% gia đình làm nghề gốm. Mặc dù là
nghề thủ công, gốm làm bằng tay, không bàn xoay nhưng người thợ gốm đã đạt đến
trình độ điêu luyện, tinh xảo. Sản phẩm gốm hiện nay rất đẹp, đa dạng về mẫu mã
được du khách trong và ngoài nước ưa chuộng. Trong ngày lễ Katé, làng Bầu Trúc,
ngoài việc tổ chức lễ dâng cúng thần làng, tổ sư nghề gốm, còn tổ chức biểu diễn
gốm, văn nghệ, đá bóng phục vụ du khách. Ðây thực sự là hội làng hấp dẫn ở Ninh
Thuận.
Diễn tiến Katé ở làng
Trước ngày lễ, dân làng thường phân công nhau quét dọn đền thờ,
nhà làng, chuẩn bị sân khấu, sân bãi. Cùng với việc trên, một bộ phận khác chuẩn
bị lễ vật cúng thần. Các cô thợ dệt làng Mỹ Nghiệp xem xét kỹ luỡng khung dệt,
tơ sợi; các gia đình ở làng gốm Bầu Trúc chuẩn bị nguyên vật liệu, dụng cụ để
làm gốm biểu diễn cho du khách xem.
Buổi sáng ngày lễ, (thường làng cúng vào ngày thứ tư hoặc thứ bảy
trong tuần đầu của lễ Katé) mọi người làm lễ cúng Katé ở nhà Làng để cầu mong
thần phù hộ cho dân làng làm ăn phát đạt . Tương tự như người Việt, mỗi làng
Chăm đều thờ một vị thần riêng.. Làng Mỹ Nghiệp thờ thần Po Rayak, làng Hữu đức
thờ Po Klong Halau, làng Bầu Trúc thờ Po Klaong Can,v.v. Trong lễ cúng tế thần
làng, chủ tế lễ không phải là chức sắc tôn giáo mà thường là chủ làng (Po
Palei) hoặc già làng có uy tín và tinh thông phong tục tập quán. Ông thay mặt
dân làng cúng lễ vật cho thần và cầu mong thần phù hộ độ trì dân làng.
Nếu như Katé ở đền tháp nặng về phần lễ, thì Katé ở làng phần lễ
rất đơn giản, còn phần Hội đóng vai trò quan trọng. Làng Mỹ Nghiệp phần Hội diễn
ra các trò chơi như thi dệt, đội nước, đá bóng, văn nghệ. Cuộc thi diễn ra trên
một sân bãi rộng, các khung cửi đã được xếp thành hàng. Các cô gái dự thi đã
chuẩn bị sẵn tơ sợi. trong hơn một giờ đồng hồ nếu cô nào dệt được một tắm vải
dài nhất, đẹp nhất thì sẽ thắng cuộc. Những chiếc thoi đưa hối hả, những sợi chỉ
giăng mắc đủ màu tạo nên một nền vải Chăm muôn màu, muôn sắc. Ở một địa điểm
khác, cuộc thi đội nước diễn ra sôi động. Các cô gái Chăm duyên dáng khéo léo đội
Buk (Chum) nước thi nhau về đích.
Cuộc thi kết thúc, Hội làng tan dần. Mọi người hân hoang trở về
mái ấm gia đình để cúng tế gia tiên.
Katé ở gia đình
Khi lễ Katé ở làng kết thúc thì lễ Katé gia đình mới được tổ chức.
Theo phong tục, mỗi gia đình không được được cúng lễ Katé riêng một cách chính
thức mà mỗi dòng họ chỉ cử ra một gia đình đại diện để cúng lễ. Còn lại những
gia đình khác có nghĩa vụ đem lễ vật đến đóng góp cho gia đình được dòng họ cử
ra để cúng lễ trên.Sau khi cúng xong, mỗi gia đình được chia phần lộc của lễ và
mọi thành viên trong tộc họ cùng ăn uống, cộng cảm với nhau.
Chủ lễ cúng Katé là người trong gia đình hoặc là người lớn tuổi
trong tộc họ. Vào ngày lễ này mọi thành viên trong gia đình, tộc họ đều có mặt
đông đủ cầu mong tổ tiên thần linh phù hộ cho con cháu làm ăn phát đạt, tránh rủi
ro, gặp nhiều điều may mắn trong cuộc sống. Ðây cũng là dịp ông bà, cha mẹ giáo
dục cho các thế hệ con cháu nhớ ơn, kính trọng tổ tiên.
Không khí Katé đã tạo cho làng và gia đình Chăm chìm trong niềm
vui, mọi người đều thân thiện, thắm tình đoàn kết xóm giềng. Họ thực sự quên đi
những vất vả, lo âu của đời thường để tận hưởng những giây phút thăng hoa ngắn
ngủi trong cuộc sống còn nhiều khó khăn, bề bộn.
Sự biến đổi của Lễ hội Katé: Xưa và Nay
Lễ hội Katé gồm có các bước lễ cơ bản như sau: “lễ đón rước
trang phục–raok khan aw; lễ mở cửa tháp-péh bi-mbang yang; lễ tắm tượng thần-manei
yang; lễ mặc trang phục cho thần-anguei khan aw ka po yang; Ðại lễ-maliéng yang
và Hội- adaoh tamia ”. Ðó là nghi thức linh thiêng bắt buộc trong nghi lễ ở đền
tháp Chăm. Tuy nhiên, ngày nay qui trình nghi lễ này của lễ Katé đã bị biến đổi
ở một số đền tháp như sau:
Sau lễ đón trang phục (raok khan aw) là nghi lễ mở cửa tháp (péh
bi-mbang yang). Thầy Kadhar hát lễ, thầy Camnei và bà Pajau đốt hương trầm tẩy
uế đền tháp và xin thần Po Ginuer Mantri (Siva) để mở cửa đá của tháp (Cuh dhuk
pahuel gihlau péh bi-mabang yang bitau). Nhưng rất tiếc ngày nay, cửa đá của đền
tháp không còn nữa để mở mà cửa đá đã thay bằng cửa gỗ.
Ngày xưa đền tháp là nơi linh thiêng, nơi ngự trị của thánh thần
và nơi cúng tế của tầng lớp tu sĩ, cho nên người Chăm phải kiêng cữ, người dân
thường không ai được lên viếng thăm trừ khi có dịp tham gia cúng tế và ngay cả
ông Camanei – ông trông coi đền tháp cũng không được mở cửa tháp tùy tiện nếu
không phải là ngày lễ cúng của tháp. Ngày nay đền tháp Chăm bị sự quản lí của Bảo
tàng tỉnh thuộc Sở VHTT-DL Ninh Thuận nên tháp Chăm phải mở cửa thường xuyên để
kinh doanh, phục vụ du lịch.
Ngày xưa ông Camanei (ông từ giữ đền) có vai trò quan trọng,
không những đảm nhiệm việc trông coi đền tháp mà còn có nhiệm vụ thiêng liêng
là người trực tiếp tắm tượng thần (manei yang) trong ngày lễ Katé. Ngày xưa ông
Camanei như là một tu sĩ Chăm theo chế độ cha truyền con nối được cộng đồng
Chăm cho hưởng hoa lợi ruộng đất đền tháp, suốt ngày phải kiêng cữ nhiều việc để
chú tâm vào việc trông coi đền tháp. Ngày này ông Camanei Chăm được thay thế bởi
nhân viên Bảo tàng, do đó ông Camanei phải tái nhập vào cuộc sống để kiếm kế
sinh nhai, không còn giữ được những điều kiêng cữ, đến ngày lễ Katé thì ông mới
đến làm lễ và tham gia tắm tượng. Việc không kiêng cữ của ông Camanei được xem
là haram (ô uế) đối với thần linh. Ðiều này do nguyên nhân khách quan đưa đến
làm cho ông Camanei ngày nay khác hẳn với ông Camanei theo phong tục của người
Chăm xưa.
Các vị thần linh cầu cúng trong đền tháp lễ hội Katé truyền thống
ngày xưa là những bức tượng đá cổ, linh thiêng (theo tín ngưỡng của nhân nhân)
như tượng Po Klaong Garai ở tháp Po Klaong Garai (Ðô Vinh-Tháp Chàm), Po Ina
Nagar ở tháp Po Ina Nagar (Hữu Ðức-Ninth Phước), Po Romé, Bia Sucan, Bia Sucih,
tượng bò Nandin (Limo Kapil) ở tháp Po Romé (Hậu Sanh- Ninh Phước), v.v. Ngày
nay một số bức tượng cổ nêu trên như Po Ina Nagar, Bia Sucan, Bia Sucih, tượng
bò Nandin (Limo Kapil) đã bị mất cắp và đã bị thay thế bằng những tượng giả vô
hồn trong những năm gần đây.
Ngày xưa nhiều tư liệu và hiện vật còn lưu giữ ở các bảo tàng
cho biết Champa nổi tiếng về đồ trang sức, kim hoàn bằng vàng bạc và đá quý .
Trước năm 1975, một số hiện vật này vẫn còn lưu giữ và được dùng mặc cho các tượng
thần trong ngày lễ Katé ở một số đền tháp Chăm. Chẳng hạn, tượng thần Po Romé,
ngoài mặc y phục còn được mặc nhiều vật trang sức khác như mão (đồ đội đầu), đồ
đeo tai, còng tay, v.v bằng vàng trong ngày lễ. Tuy nhiên ngày nay những hiện vật
này không còn nữa mà đã bị mất cắp. Vì vậy trong ngày lễ hội Katé chúng ta thấy
tượng của vua Po Romé và một số tượng Chăm khác chỉ mặc trang phục mà không có
đeo đồ trang sức lộng lẫy như xưa.
Các đồ cúng lễ trong Katé ngày nay cũng bị thay đổi. Ngày xưa, đền
tháp Champa có ruộng đất riêng để hưởng hoa lợi. Ðây là nguồn kinh phí to lớn để
các tu sĩ Chăm mua sắm lễ vật, vật dùng để cúng tế đền tháp. Vì kinh phí dồi
dào nên họ mua sắm nhiều đồ quý giá để dùng trong cúng lễ như mâm bằng gỗ quí
(gỗ mun), mâm đồng, chén bạc, áo quần ngũ sắc.v.v. Ngày nay do không còn ruộng
đất, tu sĩ Chăm không còn kinh phí để cúng lễ và mua sắm những vật dùng trong lễ.
Vì thế đồ dùng để cúng lễ Katé hiện nay trông thấy không đẹp mắt, họ dùng loại
mâm cũ gãy chân, chén, ly bể miệng, khai trầu bị hư hỏng để đựng lễ vật dâng
cúng thần linh trong ngày lễ Katé.
Nhạc cụ trong nghi lễ Katé truyền thống chỉ có đàn Rabap (hay
còn gọi là Kanyi) được ông thầy Kadhar dùng để đệm hát bài thánh ca ca ngợi các
vị thần. Nhưng ngày nay ngoài đàn Rabap còn có trống Ginang, Baranang, kèn
Saranai – những nhạc cụ chỉ được phép biểu diễn trong nghi lễ Raja cũng được
đem ra biểu diễn theo kiểu văn nghệ múa hát của những chàng trai cô gái Chăm thời
hiện đại.
Ngày xưa, từ dân thường đến quan chức người Chăm kể cả người
Kinh đều mặc trang phục truyền thống Chăm khi lên tháp dự lễ Katé. Ðây là điều
bắt buộc theo phong tục của người Chăm. Nhưng ngày nay, tục này không còn nữa
mà cho đến 80% những người dự lễ, không riêng gì người Kinh mà có cả một số cô
gái Chăm đã lột bỏ áo dài truyền thống để mặc Âu phục (quần tây, áo sơ mi) lên
tháp dự lễ Katé . Vì thế ngày nay khi nhìn toàn cảnh ngày hội Katé với dòng người
lai căng không còn mang đậm bản sắc dân tộc Chăm mà giống như toàn cảnh lễ Chùa
Hương, lễ Núi Bà Ðen ở Tây Ninh trong dịp Tết Nguyên Ðán.
Như trên đã trình bày, Katé ngày nay không còn là lễ nghi đơn
thuần mà đã biến thành hội lễ. Ngày xưa trong lễ hội Katé, lễ phải diễn ra trước
hội. Trong lúc bà Pajau đang xuất thần điệu múa thiêng trong tháp để kết thúc đại
lễ thì bên ngoài mới được bắt đầu mở Hội. Ðó là nghi thức thiêng bắt buộc của
các lễ hội ở đền tháp Chăm. Tuy nhiên ngày nay do ảnh hưởng của lễ hội hiện đại,
lễ hội Katé truyền thống của người Chăm bị đảo lộn, phần Hội được tổ chức trước
Lễ với những màn múa hát trình diễn trước đền tháp để khai mạc lễ hội và đón tiếp
quan khách, sau đó mới đến phần Lễ.
“Katé là lễ hội lớn của cộng đồng người Chăm, được diễn ra trên
một không gian rộng lớn từ đền tháp (bimong, kalan) – làng (palei)- đến gia
đình (sang). Lễ hội được lần lượt tổ chức theo thứ tự trước sau tạo thành một
dòng chảy của lễ hội Champa phong phú, đa dạng” . Ðiều này có nghĩa là khi Katé
ở đền tháp kết thúc thì Katé ở làng mới được bắt đầu và tương tự như vậy, Katé ở
làng kết thúc thì Katé ở gia đình mới bắt đầu. Ðây không phải là phong tục mà
thuộc về luật tục (adat) của người Chăm, một qui ước của cộng đồng, dân tộc mà
mỗi cá nhân, làng phải tuân theo. Ngày nay luật tục, nghi thức lễ Katé truyền
thống này bị vỡ ở một số làng, chẳng hạn như làng Hữu Ðức (Palei Hamu Tanran),
gia đình thường tổ chức ăn lễ Katé trước ngày lễ Katé ở đền tháp (bimong-kalan)
và Katé của làng (palei).
Ngày xưa lễ Katé đơn điệu nhưng ngày nay ồn ào, náo nhiệt, sôi động.
Ngày xưa đất tháp là đất thiêng, đất thánh, xung quanh tĩnh lặng, ngày thường
không ai dám lai vãng đến sợ thần bắt (theo tín ngưỡng của nhân dân) chỉ đến
ngày cúng lễ (ngày lành tháng tốt) mới được các tu sĩ Chăm và những tín đồ có
nhu cầu cúng tế (mbun ka Po) mới đuợc lên tế lễ và dự lễ. Tất cả mọi điều cấm kỵ
của người xưa đều có nguyên do của nó. Thứ nhất là người Chăm muốn giữ đền tháp
như là một chốn tôn nghiêm để thờ tự tổ tiên, vị thần linh của họ; thứ hai là
nhằm ngăn chặn con người đến sống xung quanh đất tháp để rồi mang theo những chất
thải như tiểu tiện, xả rác, ăn uống bừa bãi những loại thức ăn cấm kị trong tôn
giáo như thịt bò, heo, chó, mèo, cá trê mà tạo sự ô uế đền tháp; và thứ ba là
ngăn chặn thị hiếu tò mò và lòng tham của một số người khi đứng trước tháp để
chống mất cắp những vật quý, linh thiêng của đền tháp như tượng thờ, đồ trang sức,
v.v. Ngày nay không gian đền tháp không còn tĩnh lặng, kiêng cữ như xưa để dìm
bớt lòng tham của con người mà đã bị bao quanh bởi những ngôi nhà mới xây xa lạ,
những dịch vụ, quầy hàng, quán ăn có cả món ăn cấm kị trong tôn giáo Chăm để phục
khách du dịch tứ phương đến viếng thăm đền tháp Chăm hàng ngày. Vì vậy cảnh
quan di tích tháp Chăm ngày càng xuống cấp, những bức tượng cổ, những tượng thờ
vua – thần Chăm ở các đền tháp mấy năm gần đây lần lượt ra đi là điều tất yếu.
Katé là sản phẩm của nền văn minh Champa vùng Panduranga chỉ được
thực hiện ở 3 đền tháp thuộc vùng Panduranga như tháp Po Ina Nagar (Hữu Ðức–
Ninh Phước), tháp Po Klaong Garai (Ðô Vinh–Tháp Chàm) và tháp Po Romé (Hậu
Sanh–Ninh Phước), cả ba tháp đều thuộc tỉnh Ninh Thuận. Nhưng ngày nay do nhu cầu
du lịch, lễ hội Katé cũng được người Chăm giả (người Kinh hoá trang thành người
Chăm qua sắc phục truyền thống của người Chăm) tổ chức ở nhóm đền tháp Mỹ Sơn
(tỉnh Quảng Nam) thuộc vùng Amavati ở phía bắc Champa cổ, nơi mà ngày nay không
còn người Chăm sinh sống. Ngày xưa Mỹ Sơn còn được mệnh danh như là một Thánh địa
của vương quốc Champa một thời và từ thế kỉ V-VII là trung tâm phát triển
Bàlamôn giáo của người Champa. Cho đến hôm nay chưa có nhà khoa học nào có thể
tìm thấy một thông tin tư liệu nào cho biết từ thời xa xưa ở Thánh địa Mỹ Sơn
có lễ hội Katé hay không ? Thậm chí ngày nay ngôi tháp Bimong Yang Pakran (Ba
Tháp–Ninh Hải–Ninh Thuận) và tháp Po Dam (Lạc Trị–Bình Thuận)- nơi còn có nhiều
người Chăm sinh sống nhưng những ngôi tháp này cũng không được người Chăm cúng
lễ Katé cần gì nói đến đền tháp Mỹ Sơn. Thế mà ngày nay lễ hội Katé lại đột
nhiên xuất hiện ở đền tháp Mỹ Sơn? Ðây là câu hỏi lớn đặt ra cho những nhà
nghiên cứu.
Lễ hội Katé là sản phẩm lâu đời của nền văn minh vùng Panduranga
– Champa đến hôm nay nó không còn nguyên gốc ban đầu mà đã bị biến đổi và lai
căng. Sự biến đổi là quy luật của mọi sự vật và như vậy Katé phải biến đổi là
quy luật tất yếu của thời đại nhưng quan trọng là biến đổi như thế nào để phát
triển đi lên, chứ đừng biến đổi để rồi làm suy thoái và cuối cùng biến mất. Sự
biến đổi của lễ hội Katé vừa nêu trên là biến đối theo đà suy thoái. Ðó là hậu
quả của sự ảnh hưởng, tác động của văn hoá hiện đại và làn sóng du lịch trong lễ
hội Katé cũng như ở các di tích đền tháp Champa. Ngày nay sự tác động của du lịch
đến di sản văn hoá con người đang trở thành làn sóng cảnh báo trên toàn cầu. Một
vấn đề không ai có thể chối cãi là du lịch có tác động tốt đến nhu cầu giải trí
con người, góp phần quảng bá di sản văn hoá, giải quyết công ăn việc làm cho
người địa phương và tăng ngân sách cho nhà nước. Ngược lại du lịch có mặt tiêu
cực nếu con người khai thác không đúng hướng, nó tác động đến di sản văn hoá,
làm cho di sản xuống cấp, văn hoá bản địa bị lai căng do ảnh hưởng nhiều luồng
văn hoá khác nhau và ô nhiễm môi trường, trường hợp lễ hội Katé ở Việt Nam là bằng
chứng.
Ngày nay lễ hội Katé và di tích đền Chăm được nhìn nhận từ hai
phía khác nhau: về phía nhân dân Chăm xem lễ hội Katé, đặc biệt là di tích đền
tháp ở Ninh Thuận là cơ sở thờ tự của tín ngưỡng, tôn giáo của họ cần phải trả
lại sự yên lặng và tôn nghiêm; và ngược lại phía chính quyền nhà nước thì xem lễ
hội Katé và các di tích đền tháp Chăm là di sản văn hoá của quốc gia và nguồn
du lịch mặc nhiên được khai thác. Cả hai phía đều có lí do nhưng hi vọng dưới
ánh sáng đường lối đúng đắn của Ðảng – Nhà nước Việt Nam, một nhà nước “do dân
và vì dân” thì sự nghiệp bảo tồn và phát huy di sản văn hoá Chăm sẽ được tốt
hơn mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho dân, cho đồng bào thiểu số.
Kết luận
Lễ hội Katé chăm là diễn diễn xướng dân gian đặc sắc nhất trong
kho tàng văn hoá Chăm. Lễ hội diễn ra trong một không gian rộng lớn, từ Ðền
Tháp (Bimong- Kalan ) – Làng (Palei) đến gia đình (Sang Danaok). Lễ hội thực sự
cuốn hút tất cả mọi thành viên trong cộng đồng – ở tất cả các cấp độ, khiến cho
không một người nào bị bỏ quên mà liên kết họ lại trong một môi trường văn hóa,
tín ngưỡng đặc sắc. Lễ hội Katé chính là dịp cho người Chăm phô bày sắc thái
văn hoá cuả dân tộc mình. Chính vì vậy mà lễ hội Katé không chỉ đem đến cho người
dư hội những vẻ đẹp của tháp Chăm cổ kính, những sản phẩm của nghề trồng lúa,
nghề đi biển, nghề gốm, nghề dệt thông qua lễ vật dâng cúng mà nó còn trình diễn
trước công chúng một nền ca- múa – nhạc dân gian giàu bản sắc riêng.[41]
Tang lễ – Nhập Kut
Kut là gì
Người theo Bàlamôn giáo ở Ấn Độ không có tục giữ lại 9 miếng
xương trán sau khi hoả thiêu như của người Chăm Bàlamôn hiện nay. Giáo lý
Bàlamôn quy định: “Sau khi thiêu, mọi người tắm rửa và ba ngày sau, những mảnh
xương chưa cháy hết và tro được thu gom rồi thả xuống sông Hằng” [1, tr. 198].
Những tư liệu của người Trung Hoa cũng cho chúng ta biết, trước đây, người Chăm
không có tục giữ lại 9 miếng xương trán để nhập kút: “…Khi khiêng người chết đến
gần một con sông thì họ thôi khóc; họ đặt xác lên đống củi rồi đốt, sau đó nhặt
lấy tro than cho vào một cái lọ bằng đất, đem ném xuống sông, rồi mọi người về,
tránh không nói một tiếng nào, có lẽ để cho linh hồn người chết không tìm được
đường về” [2, tr. 27].
Như vậy, tục nhập kút và thờ kút của người Chăm Bàlamôn không phải
là tín ngưỡng của đạo Bàlamôn và trước đây cũng không có. Vậy nguồn gốc tục thờ
kút của người Chăm xuất phát từ đâu? có từ bao giờ? Ông Sử Văn Ngọc trong bài
viết: “Đám ma người Chàm Bàlamôn Thuận Hải” cho rằng tục chặt thủ cấp khi thiêu
người chết là xuất phát từ sự tích Um Mưrup, con vua Rum Muk, một thái tử đạo
Bàlamôn bị đạo Hồi mê hoặc phản bội vua cha, sau bị bêu đầu làm gương” [3, tr.
183]. Theo các sử liệu khác nhau, thời Champa, việc mang xương cốt về thờ chưa
có. Sau khi thiêu, phải mang tro bỏ trên các dòng sông, suối lớn nhỏ: của vua
chúa thì bỏ vào biển cả, của quý tộc giàu có thì bỏ xuống sông, của dân lao động
nghèo thì bỏ trên dòng suối hoặc mương nước, ao hồ. Theo truyền thuyết, từ thời
vua Pô Alloah đến Pô Klongirai [4] (vào khoảng cuối thế kỷ XI – đầu thế kỷ XII)
xương cốt của vua chúa được chôn ở trong tháp, còn của quý tộc thì ở lăng tẩm.
Đối với dân lao động nghèo thì vẫn bỏ tro xuống nước. Cho đến khi Pô Klongirai
lên ngôi, xương cốt dân nghèo mới được chôn vào kút dưới các biểu tượng đá để
thờ phụng nhờ một sự kiện còn lưu giữ trong truyền thuyết Chăm về vị “Vua lác”
(Pô Klongirai). Truyền thuyết ấy như sau: Theo sử Chàm thì ở thế kỷ thứ XII,
trong nước có nạn đói kém, chết chóc tràn lan, người chết không được làm lễ hoả
táng, xương cốt người dân vứt bỏ bừa bãi. Do mê tín dị đoan, người ta cho rằng
hồn phách người dân không giải thoát được khỏi trần gian, nên theo đuổi người
trần mà phá phách, gây cảnh đói kém, bệnh hoạn, chết chóc. Do đó, nhân dân lao
động đã nổi dậy đòi nhà vua và bọn tăng lữ cầm quyền hồi bấy giờ cho lấy xương
cốt về chôn có nơi có chỗ. Như vậy, dân mới được yên ổn làm ăn. Trước sự đòi hỏi
của dân, Pô Klongirai phải đành chấp nhận cho dựng kút để chôn xương người
nghèo [5].
Còn việc tại sao giữ lại các mảnh xương trán, các chức sắc
Bàlamôn cho biết: trán là nơi tụ linh, là nơi tinh tuý nhất của con người, còn
số lượng 9 mảnh xương trán (cho cả đàn ông lẫn đàn bà), theo chúng tôi là có sự
liên quan đến quan niệm tái sinh trong nghi lễ tang ma của người Chăm Bàlamôn
[6].
Lễ nhập kút (dănk batalang tam kút) chỉ dành cho người chết
thuộc dòng “hỏa táng” [7]. Có kút “chính” và kút “phụ”. Kút “chính” của dòng họ
chỉ dành cho những người chết “trọn vẹn – chết bình thường – chết tốt” (Mưtai
sian), là những người chết khi đã 50 tuổi trở lên, đã có vợ có chồng, con cái,
chết toàn thây và chết tại nhà mình, trước khi chết có người nhà đỡ tựa vào ngực
và sau đó được để nằm dưới đất. Kút “phụ” là kút dành cho những người chết
không trọn vẹn(Mưtai phào). Kút phụ thường để ngoài hàng rào của kút chính.
Linh hồn những người nhập vào kút phụ không được tái sinh và giải thoát, không
được về với thế giới tổ tiên. Người Chăm rất sợ chết không “trọn vẹn”, vì vậy
không dám đi xa nhà, không dám đi bệnh viện phẫu thuật một phần thân thể và
không dám chết ở bệnh viện.
Sau khi hỏa táng, gia đình đã làm đủ các nghi lễ giỗ (patrip) 3
ngày, giỗ đầy tháng, giỗ đầy năm mới đủ điều kiện làm lễ nhập kút. Theo quan niệm
của người Chăm Bàlamôn, chỉ sau khi làm lễ nhập kút, người chết mới được đầu
thai trở lại và mới được thần linh hóa, về với ông bà tổ tiên ở thế giới bên
kia. Đó vừa là cõi thiên đàng (swowr riga), vừa là xứ sở của tổ tiên (nưgar
mukkay). ở thế giới ấy cũng có ranh giới để phân biệt các tộc họ (mẹ) với nhau.
Mặc dù thế giới siêu hình ấy ở nơi xa xôi đến mấy nhưng vẫn “liên lạc” với
dòng tộc, con cháu nên người Chăm vẫn thờ phượng. Vì vậy, hàng năm vào lễ Katê
(lễ cúng cha – dương) và Chabul (lễ cúng mẹ – âm) [8], người Chăm vẫn ra thăm
kút và thờ cúng.
Nghĩa địa kút của các dòng họ đều được đặt tên, những tên gọi ấy
thường gắn với cảnh quan thiên nhiên nơi làm nghĩa địa kút như: kút “đá tảng”,
vì kút này dựng gần khu nhiều đá tảng, kút “cây me lửa” vì ở gần cây me lửa
(minh apui), kút “cây chùm bầu” vì ở gần cây chùm bầu v.v…Các tên gọi của kút
này cũng được đặt cho “chiết a tâu” [9] của dòng họ.Kút rất linh thiêng và
quan trọng trong đời sống tâm linh của người Chăm. Họ tin rằng kút là nơi ông
bà tổ tiên hóa thần, có một quyền năng siêu hình, có thể che chở, ban phúc lộc,
giải trừ nghiệp chướng cho con cháu trong dòng tộc và con cháu phải có trách
nhiệm làm lễ nhập kút và thờ phụng tổ tiên thật chu đáo và đúng phép tắc lễ
nghi. Vì vậy, dù khó khăn đến mấy, gia đình và tộc họ cũng phải góp của góp
công vào để lo cho bằng được một khu mộ kút.
Để có một khu mộ kút cho tộc họ, người Chăm phải mời các chức sắc
Bàlamôn về làm lễ dựng kút. Lễ dựng kút cũng rất phức tạp và tốn kém, phải làm
đúng quy trình từ khâu chọn đất, lễ đóng cọc, lễ chọn đá làm kút, lễ tẩy uế
v.v…
Qua nhiều lần trực tiếp điền dã lễ nhập kút của vùng đồng bào
Chăm Bàlamôn ở Ninh Thuận và phỏng vấn các vị pà xế (passeh), bên cạnh những yếu
tố văn hóa tâm linh phong phú và độc đáo, lễ nhập kút rất phức tạp và tốn kém.
Dưới đây, chúng tôi chỉ xin trình bày những lễ thức cơ bản nhất trong quy
trình làm lễ nhập kút.
Lễ nhập kút
Lễ nhập kút thường được tổ chức vào các tháng 3, 6, 8, 10 và
11 Chăm lịch. Sau khi trong tộc họ đã hội
đủ khoảng từ 15 đến 20 hộp, có khi cả trăm hộp xương (klong kút) của người
trong tộc họ đã quá cố thì trưởng họ mời các gia đình họp lại bàn với các thầy
pà xế về thời gian cũng như điều kiện vật chất để làm lễ nhập kút. Trước ngày
nhập kút vài hôm, bà con trong tộc họ đi dựng nhà làm lễ ngoài nghĩa địa (khu
kút tộc họ), chặt cây cỏ, làm vệ sinh khu vực kút. Các gia đình có kút chuẩn bị
lễ vật để đi làm lễ lấy kút về nhà để thờ. Những chiếc hộp xương trước đó được
chôn giấu quanh vườn, nay lấy về để thờ trên bàn trước khi làm lễ nhập kút. Chủ
lễ nhập kút phải là các thầy pà xế có chức sắc từ phó cả sư trở lên.
Nếu trong các gia đình thuộc tộc họ chuẩn bị làm lễ nhập kút, có
người đàn ông nào đã đi lấy vợ, đã chết và đã được bên nhà vợ làm lễ hỏa táng
và giữ lại 9 mảnh xương trán, trong dịp này gia đình cũng phải làm lễ đón 9 mảnh
xương ấy về để làm lễ nhập kút vào kút của gia đình mẹ đẻ (mẫu hệ). Người Chăm
có một tập tục rất đáng chú ý và trân trọng vì nó chứa đựng quan niệm về linh hồn
và mang tính nhân văn sâu sắc, đó là tục “xương tiễn đưa xương”: khi hai vợ
chồng đều đã làm lễ hỏa táng và hai hộp xương chưa được nhập kút. Theo quy định,
xương của người chồng phải được đưa về nhập vào kút theo dòng họ mẹ đẻ. Khi
bên nhà mẹ chồng tổ chức làm lễ nhập kút, bên nhà vợ tổ chức rước hộp xương
chồng về phía nhà chồng. Nếu người vợ còn sống thì tiễn hộp xương chồng về nhà
mẹ chồng, nếu người vợ cũng đã chết thì hai hộp xương (xương vợ xương chồng)
được để ngồi bên nhau trên kiệu hoa để rước tiễn về nhà chồng (xương tiễn
đưa xương). Sau đó xương người vợ chia tay vĩnh viễn với xương chồng (xương
vĩnh biệt xương), trở về lại để chờ ngày làm lễ nhập kút vào dòng họ mình.
Tất cả những hộp xương đều được bày lên bàn thờ. Trên bàn thờ
có bánh, rượu, thịt và một khay lửa trầm hương. Bà con hàng xóm đến viếng, uống
rượu, chúc mừng. Trong những ngày mang hộp xương về nhà, không khí trong gia
đình vui vẻ, con cháu trong thân tộc còn rước hộp xương đến từng nhà. Đến nhà
ai, nhà đó chúc mừng, mời uống trà, uống rượu. Hộp xương được thờ trong nhà
từ thứ bảy đến tối thứ hai trong tuần.
Ảnh sưu tầm
Sáng thứ hai, người nhà mời các vị chức sắc đến làm lễ tẩy uế
xương. Lúc này, các hộp xương của các gia đình được tập trung lại. Người nhà
cùng các chức sắc phân loại các hộp xương. Xương của những người chết “trọn
vẹn” sẽ được nhập vào kút chính. Xương của những người chết không “trọn vẹn”
phải đưa vào kút phụ. Những hộp xương nào chưa được phân định rõ ràng thì vẫn
được nhập vào kút chính nhưng phải chôn nguyên cả hộp, đề phòng sau này phát
hiện ra hộp xương đó không đủ tiêu chuẩn nhập vào kút chính, có thể lấy ra dễ
dàng.
Sáng thứ ba, các hộp xương được tập trung tại nhà trưởng tộc.
Hai đến ba hộp xương được xếp vào một chiếc kiệu. Những chiếc kiệu này người
Chăm gọi là “thang thun” (sang thôh), có nghĩa là “nhà ma”. Tại làng Chăm Hữu Đức,
xã Phước Hữu, Huyện Ninh Phước, có gia đình làm kiệu giống như chiếc chà
kungtrong lễ hỏa thiêu, cũng có hình bầu tượng trưng cho bụng người đàn bà
mang thai sắp sinh nở, được trang trí rất đẹp. Những chiếc kiệu được xếp thành
hàng và được khiêng ra nghĩa địa.
Những chiếc hộp xương được đặt lên trên những chiếc cổ bồng
cao, bên dưới có lót một lớp gạo. Những chiếc cổ bồng này được xếp thành hàng
theo chiều đông tây và phân chia theo giới tính (nam theo nam, nữ theo nữ) và
được phủ lên những bộ quần áo, trang phục cổ truyền Chăm. Trước mỗi cổ bồng
có các mâm lễ, lễ vật gồm có một mâm bánh xếp cao, một con dê, ba con gà luộc,
cơm, canh v.v… Người nhà lấy trang phục ra mặc cho những tảng đá kút (sau khi
các tảng đá kút đã được các chức sắc làm lễ tẩy uế).
Các vị chức sắc
Bàlamôn ngồi trước dãy cổ bồng, mặt xoay về hướng nam. Thân nhân của các kút
ngồi đối diện. Thầy cả sư làm lễ tẩy uế và tắm cho xương. Thầy mở từng hộp
xương, đếm xem có đủ 9 miếng xương hay không? Nếu thiếu, phải lấy mảnh nào đó
đập làm đôi sao cho đủ. Sau đó ông cho vào chậu rửa xương bằng nước có pha
cát lồi (ia mu) [10], lau khô và cho vào hộp, để lại lên cổ bồng và bắt đầu lễ
tế. Những người thân trong gia đình của những chiếc hộp xương nằm sấp xuống lạy
trước những chiếc cổ bồng, mỗi người ba lần. Những chiếc hộp xương được chia
làm bốn mâm theo giới tính và theo kút chính, phụ và mang vào nhà lễ.
Sau khi làm lễ tẩy trần bản thân, ông thầy ngồi xuống trước các
bia kút đọc thần chú. Ông tháo các hộp xương, bỏ các miếng xương vào trong bốn
chiếc bị làm bằng vỏ cây tràm. Sau đó, ông làm phép để đào 5 lỗ trước 5 bia
kút. Đa số các bia kút của người Chăm là 5 chiếc, là 5 cột đá được bố trí như sau:
ở giữa là kút mẹ xứ sở Pô Inư Nưgar, 2 kút phía đông (dương) là kút dành cho
đàn ông, 2 kút phía tây (âm) là kút dành cho đàn bà (ngoài ra còn có kút 7, kút
9 bia nhưng đều được bố trí theo nguyên tắc trên.
Ông thầy rải 3 chiếc lá mít thành hình tam giác tạo hình yoni
trên các miệng lỗ (theo chúng tôi, nghi lễ tang ma của người Chăm Bàlamôn,
trong đó có lễ nhập kút, luôn thể hiện các biểu tượng phồn thực với mục đích là
“tái sinh” cho những linh hồn về thế giới bên kia, đây là dấu ấn của Shiva
giáo). Ông thầy khấn thần linh cho phép những linh hồn của những người đã chết
này được hóa thần, dùng một chiếc lưỡi liềm cuốn vải đỏ làm phép trấn bùa trừ
tà trên miệng lỗ rồi bỏ những mảnh xương vào lỗ. Thứ tự như sau:
Tại lỗ trước bia kút lớn ở giữa (kút Pô Inư Nưgar), ông chỉ bỏ
xuống 9 hòn sỏi và 9 miếng trầu têm rồi vẽ bùa trấn. Sau đó ông bỏ xương của
đàn ông chết “trọn vẹn” vào 2 kút chính của đàn ông (phía đông kút giữa), xương
của đàn bà chết “trọn vẹn” vào 2 kút chính của đàn bà (phía tây). Xương của những
người “chết xấu – chết không trọn vẹn” phải đem đi bỏ xuống lỗ ở kút phụ (ở
ngoài hàng rào nghĩa địa kút).
Sau khi bỏ hết các mảnh xương vào lỗ kút, ông thầy trấn bùa rồi
lấp các lỗ kút lại, san phẳng.Sau khi đã nhập xương vào kút, ông kathành
(kadhar) kéo đàn kanhi và hát tang ca để ông cả sư làm các lễ thức như “khai mắt
thần” (Băch pakăk mư ta yang), lễ thức “tắm ngẫu tượng” và “tế các bia kút”.
Ngoài ông cả sư pô xà và ông ka thành, còn có bà múa bóng của khu vực tôn giáo
(Muk pajau). Sau đó, dàn nhạc nổi lên, bà bóng lên đồng, bà sẽ được thần linh
cho biết là lễ nhập kút đã hoàn thành tốt hay chưa? Gia đình và các thầy cả sư
đã lựa chọn chính xác các tiêu chuẩn được nhập vào kút chính hay chưa? Nếu có
trường hợp nhầm lẫn vô tình hay hữu ý mà nhập phải những linh hồn chết không
“trọn vẹn” sẽ làm thế giới tổ tiên bị xáo trộn, không yên ổn và vì vậy, những
người đang sống cũng sẽ lao đao. Gặp những trường hợp như vậy phải đào kút
lên loại bỏ và phải làm lễ nhập kút lại. Tuy nhiên trường hợp này hầu như
không xảy ra vì quy trình làm nghi lễ tang ma rất chặt chẽ và mọi người cũng rất
sợ thần linh, muốn cho thế giới tổ tiên luôn trong sạch nên làm rất cẩn thận và
chính xác. Chốn linh thiêng không thể làm bừa, làm ẩu.
Nghi thức mời các thần dự lễ đã xong. Đến phần múa của bà bóng.
Ban nhạc gồm trống paranưng, đàn kanhi, kèn saranai. Bà bóng nhảy múa say
sưa. Đến điệu múa hầu Chaykathun, trong tiếng trống paranưng dồn dập, tiếng
kèn saranai réo rắt, tiếng kanhi ai oán và tiếng mọi người hú hét “a hay! à
hay!”, bà bóng múa dồn dập và bắt đầu lên đồng rồi báo cho mọi người biết những
linh hồn đã được hóa về với tổ tiên trên thiên đàng hay chưa? Sau đó, bà bóng
múa tiếp điệu múa tiễn biệt các linh hồn (Khú tănk pặt) về với tổ tiên, những
người thân thứ tự nằm sấp, hướng về bàn tổ mà lạy (trước khi lạy, mỗi người
đều buộc một chiếc khăn ngang bụng). Tiếp đến là màn “múa mừng” (Mưja thuonh)
cho những linh hồn mới đã gặp những linh hồn cũ ở thế giới tổ tiên. Sau khi bà
bóng múa, thầy cả sư, các vị chức sắc rồi tất cả mọi người đứng lên múa mừng.
Theo chúng tôi, trong nghi lễ tang ma của người Chăm, chỉ đến khi làm lễ nhập
kút kết thúc, linh hồn người chết mới nhập xong về với tổ tiên nên mới có màn
múa mừng, cũng có nghĩa là nghi lễ tang ma đến đây mới kết thúc.
Những đêm nhập kút, mọi người thường đánh trống, kéo đàn, hát
và nhảy múa vui vẻ thâu đêm. Những người phụ nữ dọn cơm cho tất cả mọi người
ăn mừng cho linh hồn người chết đã được giải thoát, nhập về thế giới tổ
tiên.Sáng hôm sau, ông thầy cả sư pô xà lại làm lễ tẩy uế các bia kút và làm lễ
tế các linh hồn tổ tiên lần cuối cùng. Con cháu trong gia tộc nằm lạy tổ tiên,
cầu phúc cho mọi sự tốt lành.Sau lễ nhập kút, cả tộc họ phải kiêng cữ trong một
năm không được làm đám cưới, đám tang vì họ cho rằng, các linh hồn người chết
còn đang hóa thần trong kút. Nếu trong tộc họ có người chết, phải làm lễ “chôn
gửi” [11], không được làm nghi lễ tang ma (vì chôn gửi chưa được gọi là lễ
tang).Đúng một năm sau, tộc họ lại mời thầy pà xế đến làm lễ mở cửa kút (pơ
bơng kút). Linh hồn người chết coi như đã về với tổ tiên, coi như đã hóa thần
và về xứ sở ông bà (nao ngar muk kay). Theo quan niệm của người Chăm thì thế
giới bên kia có ba cõi [12] những người chết “trọn vẹn” sẽ được giải thoát
lên thiên đàng, còn những người “chết xấu” sẽ phải đến những vùng xấu hơn, thậm
chí phải xuống địa ngục để chịu những cực hình tra tấn, lại có những linh hồn
được “tái sinh”, “hóa kiếp” nhập vào một đứa bé nào đó hoặc một con súc vật
nào đó ở cõi trần, tuỳ theo dòng dõi tộc họ và công, tội khi còn sống ở nơi trần
thế.
Hàng năm, vào ngày giỗ, cả tộc họ cùng nhau tổ chức ra thăm
nghĩa địa và cúng kút.
Một vài nhận xét về lễ nhập kút
Xét về mặt tín ngưỡng,
tục thờ kút đá của người Chăm có thể là tàn tích của tín ngưỡng thờ đá của hầu
hết các tộc người trong tín ngưỡng nguyên thuỷ. B.E. Taylor cho rằng, tục thờ hồn
đá có ở hầu hết các tộc người trên thế giới, đặc biệt là ở Ấn Độ: “Những nhóm
đá xếp chồng dọc lên một cách đặc sắc ở Ấn Độ mô tả hay mang trong bản thân
chúng những vị thần, ở nam Ấn Độ có thể thấy khắp trên những cánh đồng từng
nhóm bốn hay năm hòn đá xếp thành hàng và bôi đỏ” [13, tr.739]. Một số nhà khoc
học cho rằng, tục thờ đá xuất phát từ các dân tộc Đông Nam Á. Vì vậy, cũng có
thể tín ngưỡng thờ kút của người Chăm không phải có nguồn gốc Ấn Độ mà từ truyền
thống bản địa.
Hiện nay, các gò đất cạnh bờ ruộng của người Chăm là những nghĩa
địa với các biểu tượng kút bằng những cột đá. Hiện tượng này có thể là sự tương
đồng văn hóa của nhiều cư dân Đông Nam Á. TheoPGS.TS Trần Lâm Biền, mộ của người
Mường được viền đá xung quanh, những mộ của người Việt từ thời Lý, Trần đã được
cắm những tảng đá lớn ở xung quanh. Cũng theo ý kiến của PGS.TS Trần Lâm Biền,
những cột đá trên mộ, theo quan niệm của người Việt – Mường là “trục thông
linh” nối cõi chết với cõi sống. Người Việt thường cho rằng, đêm đêm, những
linh hồn người chết sẽ theo cột đá lên, ngồi ở trên đỉnh cột đá nhìn về làng
xóm, tìm về người thân, nhớ về cõi sống. Người Chăm Bàlamôn thì cho rằng, kút
là nơi cư ngụ của tổ tiên (On Proh) và được phụng thờ, là nơi làm các nghi lễ
khấn vái của gia đình và tộc họ trong các dịp lễ hội Ka tê hàng năm. Cũng có thể,
những cột đá mà người Chăm gọi là kút ấy cũng được người Chăm coi như là “trục
thông linh” nối cõi sống với cõi chết, là con đường để tổ tiên về phù hộ cho
người thân ở cõi sống trong những lần tế tự, cầu cúng.
Qua những lý giải trên, với truyền thống văn hóa bản địa, việc
thờ cúng tổ tiên là một nhu cầu tâm linh của cư dân Đông Nam Á. Có lẽ vì vậy, tục
thờ kút như một biểu tượng cho những người đã khuất là tín ngưỡng thờ tổ tiên
xa xưa của người Chăm, được khôi phục lại nhằm mục đích cố kết cộng đồng và đáp
ứng như cầu thờ tổ tiên vào những thế kỷ sau này. Vì vậy, theo chúng tôi, tục
thờ kút là một hiện tượng phái sinh của tôn giáo Ấn Độ. sau một thời gian dài,
người Chăm Bàlamôn bị khép kín về mặt tôn giáo, không có mối liên hệ với các
dân tộc theo Bàlamôn giáo trên thế giới, tín ngưỡng bản địa có dịp trỗi dậy, sức
mạnh của yếu tố nội sinh đã làm biến đổi rất nhiều giáo lý, giáo luật của
Bàlamôn giáo. Sự biến đổi ấy không chỉ thể hiện ở lễ tang mà còn ở nhiều phong
tục, lễ nghi khác.
Lễ nhập kút luôn được người Chăm và hệ thống chức sắc tôn giáo
coi trọng, diễn ra theo những quy định chặt chẽ, về hình thức cũng như nội
dung được bảo lưu bằng văn bản cổ Chăm và được các vị chức sắc Bàlamôn truyền
lại từ đời này qua đời khác. Quan niệm cõi sống và cõi chết của người Chăm
Bàlamôn là quan niệm “luân hồi giải thoát” – quan niệm của thời kỳ Vê đa, không
tuân thủ luật “nhân – quả” (trừ những người thuộc “dòng chôn”), không chịu sự
chi phối của “nghiệp”, “báo” như các giáo phái hậu Vê đa. Tuy nhiên, việc giữ
lại chín miếng xương trán sau khi hỏa táng để linh hồn người chết nhập kút về
với tổ tiên ít nhiều phá vỡ tư tưởng “luân hồi giải thoát”.
Tín ngưỡng thờ kút đã như một thứ giáo lý của một kiểu tôn
giáo dân tộc của người Chăm. Nhập kút là một phong tục mang nhiều giá trị văn
hóa, giá trị đạo đức, giá trị xã hội, là một trong những rường cột cơ bản để cố
kết cộng đồng người Chăm Bàlamôn theo một xã hội mẫu hệ truyền thống. Những
nguyên tắc của tục nhập kút cũng là cơ sở khá vững chắc trong việc bảo lưu văn
hóa truyền thống Chăm, đó là quan niệm vũ trụ, nhân sinh, cõi sống, cõi chết,
tàn tích của giáo lý Bàlamôn kết hợp với tín ngưỡng thờ tổ tiên, ràng buộc mối
quan hệ bền chặt từ vợ chồng, gia đình, tộc họ cho đến cộng đồng tôn giáo. Lễ
nhập kút, bên cạnh sự rườm rà, phức tạp là môi trường bảo lưu các giá trị văn
hóa nghệ thuật như âm nhạc, múa, tạo hình độc đáo của người Chăm.
Tuy nhiên, bên cạnh những giá trị văn hóa, giá trị đạo đức, giá
trị xã hội, tập tục nhập kút cũng có những vấn đề cần phải suy nghĩ, bàn đàm.
Trong giai đoạn phát triển hiện nay, tục nhập kút vô hình chung đã làm cho cộng
đồng người Chăm tự khép kín mình. Bị ràng buộc bởi những quy định của tục nhập
kút mà cho đến nay, người Chăm không dám kết hôn với người khác dân tộc, khác
tôn giáo, thanh niên Chăm không được tự do yêu đương. Do sợ không được nhập
vào kút chính, không được hóa thần về với tổ tiên nên những quy định về tục nhập
kút được người Chăm tuân thủ tuyệt đối: Phải làm đầy đủ các nghi thức chuyển
tiếp, phải có vợ, có chồng, con, phải tuân thủ luật tục hôn nhân đồng tôn giáo,
đồng dân tộc, chết phải đủ 50 tuổi trở lên, chết toàn thây, phải chết tại nhà
mình v.v… Những quy định khắt khe ấy đã hạn chế sự giao lưu xã hội của người
Chăm, nhiều người không dám đi xa, thậm chí, ốm đau bệnh tật không dám đến bệnh
viện vì sợ bị chết ở bệnh viện hoặc không dám phẫu thuật sợ bị cắt đi một phần
thân thể v.v…Trong khi đó, tục nhập kút lại không quy định theo quan niệm “luân
hồi nghiệp báo” nên việc sống ở cõi trần tốt hay xấu không quan trọng, miễn là
“chết trọn vẹn” là người chết được làm lễ nhập kút, linh hồn được giải thoát
lên thiên đàng, hóa thần về với thế giới tổ tiên.
Đặc trưng văn hóa Chăm Awal: Lễ Ramuwal
Nó có ý nghĩa và
chiếm giữ một vị trí quan trọng trong đời sống xã hội của cộng đồng Hồi giáo
Bàni. Lễ hội Ramưwan là biểu tượng của linh hồn và niềm tin nơi Thượng đế, nó
luôn gắn chặt với đời sống của mỗi một con người từ khi cất tiếng khóc chào đời
cho đến lúc chết. Nói về tiết lễ hội của cư dân Chăm nói chung, trong đó có
Chăm Bàni, trong Đại Nam Nhất thống chí, ghi rằng: “người Chiêm theo Ni tục, cứ
ba năm một lần thay đổi tiết lễ như các năm Tí, Sửu, Dần thì làm lễ vào tháng
3; các năm Mẹo, Thìn, Tỵ làm lễ vào tháng 4; các năm Ngọ, Mùi, Thân làm lễ vào
tháng 5; các năm Dậu, Tuất, Hợi lễ vào tháng 6. Cứ thế luân chuyển mãi đến khi
chết thì thổ táng”[1]. Và, tương truyền: Triều Nguyễn dưới thời vua Minh Mạng,
từ năm thứ 14 (Giáp Ngọ – 1834) đã ra sắc chỉ cấm không cho người Chăm Hồi giáo
thực hiện các nghi lễ trong tháng Ramưwan. Đến năm 1841 (Tân Sửu) – năm thứ nhất
đời vua Thiệu Trị, thì lễ hội Ramưwan mới được phục hồi lại và tồn tại cho mãi
đến ngày nay.
Cùng với ý nghĩa thần phục Thượng đế và tôn vinh vinh danh
Allah, những người Chăm Bàni thực hành lễ hội Ramưwan còn mang ý nghĩa kế thừa
và bảo tồn giá trị bản sắc văn hóa của tín ngưỡng, tôn giáo bản địa cổ Bàlamôm.
Lễ hội Ramưwan là chiếc thang “giao cảm” với Thượng đế và Ông bà tổ tiên trong
đời sống tâm linh của mỗi một tín đồ. Đồng thời, là sản phẩm văn hóa và tinh thần
được hun đúc từ truyền thống tín ngưỡng dân gian của dân tộc này, góp phần nâng
cao giá trị nhân văn và bản sắc văn hóa của dân tộc. Bởi thế, lễ hội Ramưwan được
trải qua nhiều hình thức, nghi lễ khác nhau nó được nối tiếp nhau thành một chuỗi
hệ thống các luật tục và lễ hội như là một di sản văn hoá riêng có, ở hai lĩnh
vực lễ hội truyền thống và tín ngưỡng dân gian (Patăng Mukkẽi); lễ hội mang đậm
nét tín ngưỡng tôn giáo (Bilanơk), bao gồm: Lễ Sug Amưrăm (Kinh hội đầu năm), lễ
Sug Yơng (Kinh Hội), lễ Tảo mộ, Tháng Ramưwan và lễ Và-ha.
Lễ Sug Amưrăm, còn gọi là Kinh hội đầu năm, lễ này được tổ chức
vào ngày 1 tháng 1 (Hồi lịch). Nhưng theo luật tục, ngày đó phải đúng vào ngày
thứ 6 trong tuần. Kinh hội đầu năm là lễ nguyện tâu lên Thượng đế biết là năm mới
đã đến, cầu xin Thượng đế phù hộ cho muôn dân luôn có cuộc sống yên lành và thịnh
vượng.
Tục truyền, lễ Sug Amưrăm chỉ tổ chức ở Thánh đường do vị Tổng
Sư Cả (Nùn Ray)[2] trụ trì và do vị Tổng Sư Cả làm chủ lễ – Tổng Sư Cả là một
tước vị (phẩm trật) được Sư Cả ở các Thánh đường trong một tỉnh suy cử lên. Trước
khi vào lễ chính thức, vị Tổng Sư Cả dâng lễ nguyện lên Thượng đế và cho phép một
vị Mưm 40 có uy tín nhất trong số Mưm 40 của khu vực, ngồi chính giữa cầm cây gậy
Thánh và đọc Kinh dâng lễ nguyện.
Sug Amưrăm, là một lễ mở đầu cho qui trình của lễ hội Ramưwan.
Lễ Sug Yơng, còn gọi là Kinh hội hoặc Kinh hội xoay vòng; lễ này
được cử hành vào khoảng tháng 5 Chàm lịch, tức là vào khoảng tháng 8 dương lịch.
Theo Hồi lịch, cứ 8 năm tháng Ramadan lại được lùi lại 3 lần, do vậy lễ Sug
Yơng bao giờ cũng phải được diễn ra ở Thánh đường cuối cùng trước tháng Ramadan
30 ngày. Có lễ Sug Yơng thì mới có lễ hội Ramưwan trong tháng Ramadan,nó có ý
nghĩa quan trọng không chỉ đối với hàng tu sĩ và những tín đồ Chăm Bàni; sự hội
ngộ giữa những người trong làng, trong các cộng đồng cư dân Chăm mà nó còn được
sự quan tâm của các dân tộc anh em.
Theo truyền thống, ngày thứ 6 là ngày Thánh lễ khai hội lễ Sug
Yơng. Tuy nhiên, lễ này được tổ chức ở mỗi vùng lại có sự khác biệt nhau. ở cộng
đồng Hồi giáo Bàni ở Bình Thuận mỗi năm cử hành một lần, mỗi tuần tổ chức ở một
Thánh đường theo kiểu cuốn chiếu cho đến Thánh đường cuối cùng. Còn đối với cộng
đồng cư dân Chăm ở tỉnh Ninh Thuận, thì lệ 3 năm cử hành một lần vào ngày thứ 6
trong tuần, cũng làm ở từng Thánh đường theo phương thức cuốn chiếu, vì vậy nên
lễ hội Sug Yơng ở vùng này kéo dài trong khoảng thời gian một tháng rưỡi. Khác
với lễ Sug Amưrăm, lễ Sug Yơng khi đến lượt của Thánh đường nào thì vị Sư Cả trụ
trì của Thánh đường đó làm chủ lễ.
Lễ này, ngoài mục đích cầu cho “quốc thái dân yên”, mưa thuận
gió hòa, nó còn là dịp tiến hành nghi lễ tấu chức (thọ phong) cho hai vị tu sĩ:
một từ phẩm Achar lên Kh.Tib, một từ phẩm Kh.Tib lên Mưm Tân. (Ngay sau khi được
tấu chức, hai vị chức sắc này thực hành việc dẫn lễ Sug Yơng cho đến hết lễ hội
Ramưwan).
Theo tục, mở đầu lễ nguyện, vị Mưm Tân đánh ba hồi trống với ý
nghĩa báo cho Thượng đế và Thiên sứ của Ngài biết cuộc dâng lễ bắt đầu; vị Tib
tân trong lễ phục chĩnh tề tiến ra cửa chính ra dấu mở cửa để chào đón Thượng đế
vào chứng lễ. Sau đó, cả hai vị Mưm Tân và Tib Tân cùng bước đến giữa Thánh đường
đọc kinh cầu nguyện Thượng đế, rồi đi thẳng đến giá đỡ (IMưmpar) và rồi vị Tib
Tân trình mơì vị Mưm 40 đón cây gậy Thánh và đọc kinh cầu nguyện (kinh Qur’an
viết tay bằng chữ Ả Rập hai mặt trên một loại giấy trắng được quấn lại thành cuộn
rất dài). Khi Thánh lễ vừa kết thúc, ở ngoài sân trước thánh đường từng tốp người
là các bà, các chị và cả các em gái trong lễ phục của áo dài truyền thống, đầu
đội từng mâm lễ vật hiến cho Thượng đế và ông bà tổ tiên. Các mâm lễ vật được
phủ kín bởi các tấm vải mới đẹp, mỗi mâm lễ vật một màu khác nhau. Đây là một
tiệc lễ có ý nghĩa “cúng hiến”. Tương truyền, tiệc lễ “cúng hiến” lớn cũng có
nghĩa là lễ Sug Yơng mang lại cho dân làng nhiều điều tốt lành.
Sau khi Sug Yơng tại
Thánh đường kết thúc, trong từng gia đình tín đồ (vùng diễn ra lễ Sug Yơng) họ
cũng làm lễ mở tiệc hiến dâng Thượng đế và Ông bà Tổ tiên; một mặt mừng kết
thúc lễ Sug Yơng, đồng thời thể hiện truyền thống gắn kết trong dòng tộc và
tính liên kết cộng đồng giữa họ tộc với xóm làng.
Lễ tảo mộ:
Lễ Tảo mộ là một trong năm lễ của hệ thống lễ hội Ramưwan của cư
dân Chăm Bàni; một luật tục quan trọng có ảnh hưởng sâu sắc trong đời sống tâm
linh, biểu hiện sự tôn kính, sự biết ơn đối với Tổ tiên, ông bà theo nghĩa “uống
nước nhớ nguồn” và hướng về cội nguồn.
Theo luật tục và lệ tục, nghĩa địa (Khunhak) của cư dân Chăm
Bàni được chọn ở những nơi có vị trí cao ráo, thông thoáng và sạch sẽ; ở những
nơi cách xa làng mạc, xa nơi cư trú của cư dân. Tục về tang lễ của người Chăm Hồi
giáo Bàni ở hai tỉnh Bình Thuận và Ninh Thuận, mặc dù có một số khác biệt,
nhưng sự khác biệt đó không đáng kể. Tục về tang lễ có điểm chung là: lễ tục
đơn giản, không phân biệt đẳng cấp, họ tộc. Tang lễ được qui định theo độ tuổi
của người chết, như sau:
– Đối với người chết là một Sư Cả (Pô Grù), phải có 17 vị Achar
(thầy Chang) làm lễ;
– Đối với người chết là các tu sĩ, chức sắc khác và những người
giàu có, phải có 13 vị Achar làm lễ;
– Đối với người chết là người có tuổi thọ cao – từ 70 tuổi trở
lên; lễ tang này có làm nghi thức rửa tội và do 6 Achar làm lễ;
– Đối với người chết ở độ tuổi từ 10 tuổi cho đến dưới 70 tuổi,
lễ tang này phải do 3 vị Achar làm lễ;
– Đối với người chết trẻ – dưới 10 tuổi, nhưng được chôn cất
trong nghĩa trang phải có 2 vị Achar làm lễ;
– Đối với người chết là trẻ con, người chết trong bào thai hoặc
chết không bình thường phải chôn cất tạm (không được chôn cất trong nghỉa trang
của dòng tộc) để sau này cải táng mới đưa vào nghĩa trang. Lễ tang này chỉ do 1
Achar làm lễ.
Mộ của những người chết được chôn theo từng khu vực, họ tộc. Mỗi
họ tộc có hai dãy mộ, một dãy chính để chôn những người chết tốt, một dãy phụ để
chôn những người chết xấu (chết không nguyên xác), bởi theo lệ tục: nếu người
chết xấu mà chôn cùng dãy với người chết tốt, thì linh hồn người chết xấu sẽ quậy
phá cuộc sống yên lành của họ tộc và những người đang sống. Trên mỗi ngôi mộ đặt
hai cục đá núi[3] (là bia mộ), cục đặt ở phần trên đầu lớn hơn cục ở dưới chân.
Tất cả các mộ được chôn có khoảng cách đều nhau, theo hướng Bắc – Nam, mặt quay
về hướng Tây (hướng Thánh địa Makkah) nên hai cục đá (ở đầu và chân mộ) được xếp
song song chạy dài thành hai hàng thẳng theo hướng Đông – Tây.
Luật tục lễ Tảo mộ được diễn ra trong thời gian 3 ngày, sau một
tháng kể từ khi kết thúc lễ Sug Yơng, thường vào các ngày 28, 29 tháng 8 Hồi lịch.
Lễ Tảo mộ được tổ chức rất tôn nghiêm theo từng làng, theo từng họ tộc. Ngày diển
ra lễ tảo mộ, từ sáng sớm các tu sĩ và cư dân trong lễ phục truyền thống trang
nghiêm, nếu là chức sắc hoặc tu sĩ thì mặc áo dài trắng có viền đỏ quấn khăn
màu trắng, đầu bịt khăn trắng có tua màu đỏ và đội Đôn rong (một loại giỏ được
đan bằng tre), bên trong đựng hai hộp bằng đồng có trầu cau đã têm sẵn, thuốc lá
làm lễ vật cúng tế và tay cầm cây gậy.
Sau khi tảo mộ xong (dãy cỏ và vun đất cho từng ngôi mộ), các
người trong họ tộc ngồi thành hai hàng dọc theo dãy mộ và đặt lễ vật cúng tế ở
phía trước mặt. Vị tu sĩ có phẩm trật cao nhất làm chủ lễ bằng cách: Tay nâng một
thùng đựng nước được pha cát lồi, vừa đọc kinh cầu nguyện vị tu sĩ vừa tưới nước
lên các cục đá và các mộ với ý nghĩa là: tắm rửa rữa để làm sạch những ô uế
trong năm qua, để linh hồn người đã khuất được thanh thản và yên lành, hưởng trọn
năm mới. Sau khi làm xong tục tẩy rữa, vị tu sĩ chủ lễ đọc kinh cầu nguyền (đọc
kinh Phoa thắt – ầu va) và mọi người đọc theo. Đọc xong, mọi người làm dấu
thánh và khấn vái ông bà, tổ tiên phù hộ cho xóm làng họ tộc cùng những người
đang sống được hưởng cuộc sống bình yên và hạnh phúc.
Sau cùng là tục chia cho mỗi người một ít nước vào chén, uống một
ngụm rồi tưới lên cục đá của ngôi mộ trước mặt và lấy trầu cau đã têm sẵn nhét
xuống những ngôi mộ. Và, mọi người cũng ăn bánh, hút thuốc, kết thúc lễ tảo mộ.
Ngoài ra, sau khi thực hành xong tục lễ tảo mộ, từng gia đình sửa
soạn mua sắm những lễ vật quí để mừng năm mới tại nhà. Lễ mừng năm mới tại nhà
do ba vị tu sĩ làm chủ lễ. Khi cúng, vị tu sĩ có phẩm trật cao hơn phải ngồi giữa,
các nghi lễ cúng tại nhà khoảng một giờ ba mươi phút. Sau khi cúng ông bà, tổ
tiên ở từng gia đình xong, vào chiều ngày mùng 1 tháng 9 (Hồi lịch) tất cả chức
sắc, tu sĩ vào Thánh đường cầu nguyện mở đầu cho tháng Ramadan của người Hồi
giáo Bàni.
Tháng Chay Tịnh Ramadam:
Khác với Hồi giáo (Islam), Hồi giáo Bàni có một hệ thống chức sắc
và tu sĩ chuyên nghiệp. Do vậy, thực hành những luật tục trong tháng Ramadan là
bổn phận và chức năng của những chức sắc và tu sĩ, bao gồm: Sư Cả (Pô Grù), Mưm
(Thầy Mưm), Kh.Tib và A char (Thầy Chang); những tín đồ Hồi giáo Bàni – kể cả
nam tín đồ, theo luật cũng không phải thực hành tháng Ramadan.
Tháng Ramadan, bắt buộc tất cả tu sĩ đều phải vào Thánh đường;
Trong tháng này, người Hồi giáo Bà ni cũng thực hành năm lễ nguyện (đi kinh)
trong một ngày; Các loại kinh trong lễ nguyện thứ tự nội dung như sau: Kinh Vắt
rcha, Vắt Chụphi, Vắt Várí, Vắt ótcharí và Vắt Càripa. Tháng Ramadan của người
Chăm Bàni còn thực hành bắt buộc hai luật tục quan trọng, là: lễ đổi gạo (một
hình thức bố thí) và lễ đưa cây gậy Thánh ra ngoài, với các nghi thức rất tôn
nghiêm.
Các chức sắc, tu sỉ sau khi hoàn tất công việc chuẩn bị, đúng
vào lúc hoàng hôn (mặt trời lặn), dưới sự điều khiển của vị Sư Cả tất cả tu sĩ
đi về phía bên trái của Thánh đường, xếp thành từng hàng và phải nhìn về hướng
Tây (nơi những ánh hoàng hôn đang chiếu sáng) và đọc kinh dâng lễ nguyện để tâu
với Thượng đế về số lượng tín đồ của Thánh đường và số chức sắc, tu sỉ vào
tháng Ramadan. Trước khi vào bên trong Thánh đường, các chức sắc phải đứng trên
các phiến đá hoặc những ô kẻ trên nền sân xi măng làm thủ tục tẩy thể.
Trong suốt tháng Ramadan, những chức sắc Hồi giáo Bàni thực hiện
ba trong năm điều sống đạo (năm cốt đạo) là xác tín, cầu nguyện mỗi ngày và thực
hiện tượng trưng bố thí bằng hình thức lễ đỗi gạo. Lễ đổi gạo được tiến hành
vào ngày cuối cùng của tháng Ramadan.
Hồi giáo Bàni quan niệm thực hiện tháng Ramadan là tháng “ép
xác”, bởi họ tin rằng kiêng kị mọi sinh hoạt của con người và nhịn ăn, nhịn uống
để hiểu và thông cảm cho những cảnh nghèo khó của con người, để nhận biết về những
thiệt thòi của những con người thiếu may mắn và là điều kiện tạo cho họ một nghị
lực chế ngự mọi ham muốn tầm thường và những dục vọng xấu xa trong cuộc sống
Tháng Ramadan, ngoài Thánh lễ ngày thứ 6, Hồi giáo Bàni còn có 2
Thánh lễ được coi là quan trọng hơn hết là lễ vào đêm của ngày thứ 15 và đêm của
ngày thứ 20, Đêm thứ 15 gọi là 15 nồi hay còn gọi là đêm Ró mú, có nghĩa là đêm
rước Bà; đêm thứ 20, gọi là đêm 20 nồi, còn gọi là Ró ôn, có nghĩa là đêm đón
Ông.
Ngoài ra, vào đêm thứ 27 của Tháng Ramadan còn có lễ tấu chức phẩm
M.Thình cho một vị tu sĩ AChar. Mỗi Thánh đường chỉ được tấu chức cho một tu sĩ
duy nhất
Lễ Và-ha:
Lễ Vàha còn gọi là lễ Tết ra. Theo cổ tục, lễ này khai hội vào
khoảng thời gian đúng lúc mặt trời lặn của ngày thứ năm, của một ngày cách ngày
kết thúc tháng Ramadan vừa tròn 2 tháng 10 ngày, để ngày thứ 6 kế tiếp thực hiện
dâng lễ nguyện kết thúc quy trình lễ hội Ramưwan.
Tục truyền, trước ngày khai hội lễ Vàha 10 ngày, tất cả cộng đồng
cư dân Chăm (cả Chăm Bàni và Chăm Bàlamôn) đều thực hiện tục kiên không sát
sinh, không có những hành vi gây gỗ làm mất trật tự trong làng (Pơlay). Đối với
người Chăm Bàlamôn, nếu trong dịp diễn ra lễ Vàha mà có người chết là một điềm
rất xấu, thân xác người chết không được hoả táng mà phải đem thổ táng và đúng
ngày naỳ của 3 năm sau thì lấy cốt đưa đi hoả táng rồi mới nhập Kút theo tục. Tục
này, không biết có từ bao giờ, nhưng các cộng đồng cư dân Chăm thực hành rất
nghiêm ngặt.
Trong lễ Vàha, còn cử hành tục cắt cổ và làm thịt hai con gà có
bộ lông màu trắng; tục đưa cây Gậy thánh ra ngoài lần thứ 2 và lễ tấu chức (thọ
phong) Mưm 40. Tục đưa cây gậy Thánh ra ngoài lần thứ hai trong một năm, chỉ được
thực hành khi trong thời gian lễ Vàha không diễn ra những điều xấu, điều không
lành trong cộng đồng.
Lễ tục đưa cây gậy Thánh ra ngoài được thực hiện một năm 2 lần,
lần đầu vào ngày cuối cùng của tháng Ramadan (tháng nhịn chay) và lần thứ 2,
nghi thức sau cùng để kết thúc lễ Vàha – lễ kết thúc chuổi hệ thống lễ hội Ramưwan.
Cây gậy Thánh là biểu tượng của uy quyền và sức mạnh của Thượng
đế, được làm bằng gỗ Trầm hương – một loại gỗ quý hiếm, có chiều dài 2,2 mét và
đường kính là 0,04 mét. Những ngày thường cây gậy Thánh được bọc bởi một lớp vải
nhung màu đỏ và được bảo vệ bằng một lớp vải trắng, treo trên mái Thánh đường
(bên trên Toà Thánh Thượng đế), khi làm lễ được rước tới và để bên cạnh Toà
Thánh Thượng đế. Lễ đưa cây gậy Thánh có ý nghĩa thiêng liêng trong đời sống
tinh thần của cư dân Chăm Bàni. Theo luật tục: Nếu trong tháng Ramadan và trong
dịp lễ Vàha dân làng không gặp những điều xấu xa, không có người chết cũng có
nghĩa là dân làng được hưởng một tháng Ramadan hoặc một cuộc lễ Vàha trọn vẹn
và yên lành, thì mới được phép thực hành tục đưa cây gậy Thánh ra ngoài.
Nghi lễ đưa cây gậy Thánh ra ngoài, được tổ chức nghiêm ngặt và
long trọng trong sự tôn vinh, được thực hành làm 2 bước. Trước tiên, là làm thủ
tục đưa cây gậy Thánh xuống, bước tiếp theo là đưa cây gậy Thánh ra ngoài. Từ
buổi chiều hôm trước, sau khi dâng lễ nguyện, vị M.Thình tiến tới đón cây gậy
Thánh từ mái nhà bên trên của Tháp gỗ (IMưmpar) hay còn gọi là Toà Thánh Thượng
đế xuống, chuyển cho vị M.Thình mới rồi vị M.thình cũ làm thủ tục mở lớp vải trắng
bọc bên ngoài, sau đó vị M.Thình mới cầm cây gậy Thánh hướng về phía Toà Thánh
Thượng đế. Lúc này, vị Sư Cả trong lễ phục trang trọng từ trên chiếc giường bước
xuống, làm lễ cho vị M.Thình mới, Tib tân và Mưm tân cùng làm dấu Thánh; cây
gây Thánh tiếp tục được chuyển xuống, được vị M.Thình mới đón nhận và nâng lên
trao cây gậy Thánh cho vị Sư Cả làm thủ tục. Vị Sử Cả tiếp nhận và nâng cây gậy
Thánh lên ngang ngực, vuốt dọc Cây gậy Thánh với ý nghĩa là để đón nhận những
phúc lành của Thượng đế ban cho. Sau cùng, vị M.Thình (cũ) hướng dẫn cho vị
M.thình (mới) đón cây gậy Thánh và đưa đến đặt đứng bên cạnh Toà Thánh Thượng đế,
để sáng ngày hôm sau làm lễ chuyển cây gậy Thánh ra ngoài.
Đến sáng hôm sau (ngày thứ 30 của tháng Ramadan), sau khi hoàn
thành nghi thức dâng lễ nguyện, ba vị M.Thình bước vào Thánh đường, tiếp theo
là vị Mưm tân và Tib tân. Vị M.Thình tiến thẳng đến Toà thánh Thượng đế đọc một
câu kinh cầu nguyện và làm dấu Thánh, lấy hai tay vuốt dọc cây gậy Thánh (lúc
này đã có 6 vị tu sĩ khác đứng thành hai hàng, mặt quay ra hướng cửa của Thánh
đường). Vị M.Thình hai tay nâng cây gậy Thánh lên từ nơi Toà Thánh Thượng đế,
đưa đi dưới tấm vải trắng do 6 vị tu sĩ căn lên, vừa đi vừa đọc kinh cầu nguyện.
Cây gậy Thánh đưa ra ngoài và được rước đến trước nhà khách của Thánh đường.
Ngay sau đó, vị M.Thình tiếp tục đưa cây gậy Thánh vào đặt lại chổ qui định.
Sau cùng, là vị Tib tân tiến đến Toà Thánh Thượng đế, cầm cây gậy
làm dấu thánh và đọc kinh cầu nguyện kết thúc lễ nguyện đưa cây gậy Thánh ra
ngoài, cũng có nghĩa là kết thúc lễ hội Ramưwan và lễ Vàha.
Tục đổi gạo:
Tục này, được tiến hành vào sáng ngày thứ 30 của tháng Ramadan,
(nó mang ý nghĩa như bố thí của Hồi giáo) do vị Mưm Tân làm chủ lễ.
Theo qui định, gạo đựng sẵn vào thúng và được xếp thành hai hàng
dọc theo hướng Đông -Tây của Thánh đường, các tu sĩ cũng ngồi vào chỗ phần gạo
của mình được người nhà đem đến (mỗi thúng gạo có một cái chén). Để chia gạo
không sai sót, các vị tu sĩ phải báo cho vị Mưm Tân biết dòng tộc, họ hàng của
mình có bao nhiêu người chết, bao nhiêu người còn sống. Khi lễ chia gạo bắt đầu,
vị Mưm tân tay cầm một cái ống đong gạo bằng tre (được cắt một đầu dài, một đầu
ngắn); đầu dài là suất đong cho người đàn ông và đầu ngắn là suất đong cho người
phụ nữ, (theo quan niệm đàn ông ăn nhiều, phụ nữ ăn ít). Theo luật tục, khi vị
Mưm tân xúc ở phía trước là phần suất của người sống, còn xúc ở phía sau là phần
suất cho người chết; mỗi lần 3 ống cho một người, cứ thế chia cho đến khi hết gạo.
Tiếp theo tục chia gạo của mình cho người bên cạnh và người bên cạnh cũng đưa
chén gạo của mình cho vị Mưm tân; rồi vị Mưm tân lại xúc chén gạo khác đổi cho
người tiếp theo…Cứ thế, đổi cho đến khi hết gạo và thúng gạo của mỗi người có đủ
số chén gạo của tất cả các tu sĩ trong Thánh đường, đồng thời là kết thúc lể đổi
gạo.
Tục cắt cổ gà:
Trong thời gian đi kinh (dâng lễ) để đưa cây gậy Thánh về đặt lại
bên trên Tòa Thánh Thượng đế, nghiêm cấm mọi người không ai được đi lại dọc hai
bên Thánh đường. Theo qui định, ở thời điểm này vị M.Thình được ra ngoài đến
phía góc phải của Thánh đường để làm lễ cắt cổ gà; cặp gà để làm lễ hiến cúng
thần linh, phải là cặp gà có bộ lông toàn màu trắng và do người nhà của vị
Kh.Tib tân chuẩn bị trước, mang đến chờ sẵn với một con dao thật bén và một
chén nước. Khi cắt cổ gà, vị M.Thình ngồi quay mặt về hướng Tây, miệng đọc kinh
cầu nguyện; cầu nguyện xong lấy nước rửa cổ gà cho sạch và theo lệ tục thì khi
cắt phải cho máu con gà chảy xuống đất. Khi con thứ nhất chết hẳn thì mới được
phép tiếp tục cắt cổ con thứ hai.
Việc thực hành tục lễ cắt cổ gà với ý nghĩa để loan báo cho mọi
tín đồ biết là thời gian kiêng kị đã kết thúc, từ đây được sát sinh, được làm
các công việc bình thường của con mỗi một người trong đời sống hàng ngày.
Tục cắt bì:
Việc thực hành tục “phép cắt bì cho các bé trai, bé gái ở độ tuổi
trưởng thành (tức ở độ tuổi từ 14 đến 15 tuổi) của người Chăm Bà ni là một lễ
nghi bắt buộc, đánh dấu thời kì chuyển tiếp của tuổi trưởng thành trong một con
người (tuổi chuẩn bị bước vào hôn nhân); sự nhìn nhận của Thượng đế đối với con
người – có ý nghĩa là lễ nhập đạo.
Phép cắt bì, đối với các bé trai gọi là tục cắt qui đầu (lễ
Khatan); đối với các bé gái gọi là tục cấm phòng (Karơh). Nhưng bởi truyền thống
bản địa cổ, nên phép cắt bì đối với các bé gái được coi quan trọng hơn và tổ chức
rất nghiêm trang, bằng hình thức cắt tóc một cách tượng trưng. Theo luật tục,
phép cắt tóc (Nga Oroh) được tổ chức từ 5 đến 7 bé một lượt, thường là trong
cùng một họ tộc và được tổ chức tại một tư gia hoặc tại Thánh đường. Nghi lễ Cấm
phòng (Karơh) được tiến hành như sau: Từ chiều hôm trước, các bé gái đã đến tuổi
“Cấm phòng” tập trung về nơi Thánh đường (chùa) được sắp xếp ngủ ở một ngôi nhà
được chuẩn bị trước, nghiêm cấm không được phép ra ngoài. Vì vậy, phải cử 4 bà
già canh giữ; vị Sư Cả (PôGrù) và các Thầy Mưm đọc kinh cầu nguyện ở Thánh đường
hoặc ở một ngôi nhà được chuẩn bị trước (nơi sẽ diễn ra lễ Karơh). Đến sáng
ngày hôm sau, các cô gái làm thủ tục tẩy thể, mặc lễ phục màu xanh đỏ và được một
người đàn ông mặc y phục màu trắng (y phục truyền thống của người Chăm) và một
người đàn bà lớn tuổi, bồng một cháu bé (khoảng chừng một tuổi) hướng dẫn các
bé gái lần lượt vào nơi làm lễ đã được định. Vị Sư Cả giữ vai trò chủ lễ, sau lời
cầu nguyện Thượng đế, Ông đặt vào miệng bé gái đang chịu lễ một hạt muối, cắt một
lọn tóc và cho uống một ngụm nước. Sau đó, bé gái vừa chịu lễ quay lại ngôi nhà
để tiếp tục cấm phòng. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày hôm đó, các bé gái vừa chịu
lễ thay y phục màu trắng trở ra và quay lại nhà chịu lễ, lạy tạ vị PôGrù và các
Thầy Mưm. Sau cùng là vị PôGrù đặt tên Thánh cho các bé gái này.
Kết thúc lễ cấm phòng (Karơh) các bé gái được cha mẹ, bạn bè
chúc mừng và tặng nhiều vật phẩm trang sức quý, hơn thế nữa được tặng cả trâu
bò, ruộng đất như là của hồi môn khi lập gia đình.
Tóm lại, lễ hội Ramưwan là chiếc thang “giao cảm” với Thượng đế
và Ông bà tổ tiên trong đời sống tâm linh của mỗi một tín đồ. Vì vậy, việc thực
hành lễ hội Ramưwan của đồng bào Chăm theo Hồi giáo Bà ni, ngoài ý nghĩa thần
phục Thượng đế và tôn vinh vinh danh Allah, lễ hội này còn mang ý nghĩa kế thừa
và bảo tồn giá trị bản sắc văn hóa của tôn giáo bản địa cổ Bàlamôm. Đồng thời,
là sản phẩm văn hóa được hun đúc từ truyền thống tín ngưỡng dân gian của dân tộc
này, góp phần nâng cao giá trị nhân văn và bản sắc văn hóa Việt Nam.
Chú Thích:
[1] Như trường hợp tên quốc gia Indonesia cũng không phải do người
Indonesia định danh mà do sự nhầm lẫn của các nhà phát kiến địa lý phương Tây
vì thấy văn hóa Indonesia tại thời điểm họ nhìn thấy có nét giống với văn hóa của
Indi (India – Ấn Độ) nên họ gọi là Indonesia (nghĩa là Ấn Độ ở biển) – đuôi
“-nesia” là hậu tố đa đảo và biển đảo trong Định danh học. Mời bạn đọc thêm tác
phẩm “Vai trò của Việt Nam trong ASEAN” do Trung tâm Dữ kiện và Tư liệu TTXVN
xuất bản năm 2007 có nhắc đến vấn đề Định danh nhầm, định danh giùm…
[2] Sakaya, Tiếp cận một số vấn đề Văn hóa Champa, NXB Tri Thức,
2012, trang 649-661
[3] Thủ cựu ở đây không có nghĩa là xấu hay tiêu cực, mà ý nói
những nhà nghiên cứu thích dùng thuật ngữ cũ, trước năm 1975 hơn thuật ngữ hiện
đại.
[4] Tố Hữu, trích trong bài thơ Việt Bắc
[5] C14 tức là phương
pháp xác định tuổi bằng đồng vị Carbon còn gọi là Định niên đại bằng cacbon
phóng xạ hoặc định tuổi bằng cacbon-14, là một phương pháp để xác định tuổi của
một đối tượng chứa các chất hữu cơ, bằng cách sử dụng các thuộc tính đặc hữu của
đồng vị carbon phóng xạ 14C trong hoạt động của sinh giới. Nó là một thành viên
của nhóm các phương phápĐịnh tuổi bằng đồng vị phóng xạ.
Phương pháp này được Willard Libby phát minh vào cuối những năm
1940 và sớm trở thành một công cụ tiêu chuẩn cho các nhà khảo cổ[2]. Willard
Libby nhận giải Nobel Hóa học cho phát minh của ông vào năm 1960.
Phương pháp cho kết quả tin cậy trong dải niên đại từ 300 đến
60.000 năm, và được ứng dụng xác định tuổi mẫu vật trong khảo cổ học, cổ thực vật
dân tộc học(Paleoethnobotany), nghiên cứu Kỷ Đệ tứ và nghiên cứu băng hà.
Đây là một trong nhiều phương pháp tính toán niên đại chính xác
nhất thường được giới Khảo cổ học sử dụng để tính toán niên đại của cổ vật và
xác định thời gian tồn tại của một nên văn mình nào đó.
[6]
https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C4%83n_h%C3%B3a_Sa_Hu%E1%BB%B3nh
[7] Xin mời bạn đọc xem thêm: Hồ Trung Tú, Có 500 năm như thế –
Bản sắc Quảng Nam dưới góc nhìn phân kỳ lịch sử, NXB Phương Nam, 2011, trang
25-38
[8] Từ đây, tác giả xin mạo muội sử dụng thuật ngữ tiền Champa để
nói các thị tộc trước khi thành lập chính thể.
[9]Xin bạn đọc xem thêm: Nguyễn Văn Huy, Tìm hiểu cộng đồng người
Chăm ở Việt Nam trên trang web Nghiên Cứu Lịch Sử
[10]Lương Ninh, chương V, Lịch sử Việt Nam (Phan Huy Lê, Trần Quốc
Vượng, Hà Văn Tấn, Lương Ninh), tập 1, nxb. Ðại Học Và Trung Học Chuyên Nghiệp,
Hà Nội, VN, 1983, trang 286 – 288
[11]Xin bạn đọc xem thêm: Nguyễn Văn Huy, Tìm hiểu cộng đồng người
Chăm ở Việt Nam trên trang web Nghiên Cứu Lịch Sử
[12] Lịch sử Champa vốn rất dài, để viết cho đầy đủ mà lại mang
tính chất cô đọng, súc tích gói gọn trong một tác phẩm nhỏ bé này là không thể.
Hơn nữa, nếu đi quá đà vào nghiên cứu lịch sử Champa thì sẽ đi lệch chuyên ngành nghiên cứu,
không còn là nghiên cứu du lịch nữa. Bâng khuâng trăn trở trong nhiều năm, đọc
cũng rất nhiều tác phẩm lịch sử Chăm nhưng vẫn không biết nên viết như thế nào
cho đầy đủ và nằm trong giới hạn của ngành. Rất
may thay, trong quá trình khảo cứu tài liệu, tôi may mắn được tiếp cận với
bài viết “Tìm hiểu cộng đồng người Chăm ở Việt Nam” của tiến sĩ Nguyễn Văn Huy,
giảng viên Khoa dân tộc học của Đại học Paris. Đọc một mạch và tôi thấy sự trình bày biện dẫn của thầy phù hợp với hướng
tiếp cận của cá nhân mình, vừa mang tính tóm tắt lại vừa mang tính chuyên sâu,
do đó tôi xin trích lục lại một phần bài viết của thầy để làm một chương cho
tác phẩm nhỏ mà tôi đang soạn.
Việc đặt tên chương mục là do chủ kiến cá nhân, không nhằm cướp
đi bản quyền của thầy mà chỉ muốn tác phẩm nhỏ bé của tôi được liền mạch viết
khi đến được với bạn đọc. Phần này, tác giả Nguyễn Văn Huy có nhầm lẫn một số địa
danh Chăm cũng như niên đại Chăm (có lẽ do thầy ấy không có điều kiện đi khảo cứu
trực tiếp và điền dã như tôi, hoặc thầy ấy không bắt kịp những biến đổi của lịch
Sakawi nên mới có sự nhầm lẫn như vậy) và tôi đã hiệu đính lại cho chính xác
hơn những phiên âm ký tự la tinh của chữ Akhar Thra cũng như những địa danh và
niên biểu theo Sakawi cho được chính xác hơn với lịch Dương hiện đại.
Nhân tiện đây, hậu học cũng xin được đê đầu đãnh lễ thành kính
tri ân tiến sĩ Nguyễn Văn Huy vì bài viết mang lại cho học trò rất nhiều điểm
sáng. Kính chúc thầy luôn luôn sức khỏe và
tiếp tục nghiên cứu nhiều công trình khoa học vĩ đại hơn. Đa tạ.
[13] E. Aymonier (1885, tr. 194, 1890, trang 1). DNTLCB, XVI,
tr. 197 cho biết vào tháng 4 năm Ất Vị (1835) phủ Bình Thuận bắt được một quân
phiến loạn. Theo Án Sát tên là Phạm Duy Trinh, quân phiến loạn này khai rằng
lãnh tụ của họ tên là Số Cố, môt vị tu sĩ người Chăm, gốc làng Tánh Linh (Phan
Rí) tự xưng là Điên Sư. Nếu so sánh nội dung của biên niên sử Chăm và Việt Nam,
Số Cố hay Điên Sư là tên gọi ám chỉ cho Ja Thak Wa.
[14] Chăm Bani là thuật ngữ phân chia những người Chăm không theo
Hồi Giáo Thế Giới (Islam) mà theo Hồi Giáo đã được người Chăm bản địa hóa. Theo
quan điểm của Tiến sĩ Trương Văn Món, bút danh Sakaya thì ông gọi đây là Chăm
Awal.
[15] Theo bản báo cáo của Án Sát tỉnh Biên Hòa ghi trong biên
niên sử Việt Nam (DNTLCB , XVI, tr. 197), vào tháng 4 năm Ất Vị (1835) Điên Sư
(ám chỉ cho Ja Thak Wa) tôn vinh La Bôn lên làm quốc vương Champa. La Bôn là em
rể của Nguyễn Văn Nguyên, phó vương Champa (1828-1832), mà biên niên sử Chăm gọi
là Cei Dhar Kaok hay Kanduai Nguen. Xem CM 29 (1), câu 1. Theo CM 24 (5), tr.
168-169 và CM 32 (6), tr. 104-103, Po War Palei (La Bôn) là nhân vật gốc
Raglai. Đây không phải là hiện tượng đáng ngạc nhiên cho lắm, vì biên niên sử
Chăm và tài liệu hoàng gia Champa hiện lưu trữ tại Pháp công nhận rằng Champa
không phải vương quốc dành riêng cho người Chăm mà là quốc gia đa chủng tộc
trong đó người Chăm, Churu, Raglai, Kaho, có nghĩa vụ và quyền hạng ngang nhau.
[16] Có thể là Tháp Po Rome nằm ở phía tây của thành phố Phan
Rang – Tháp Chàm ngay nay.
[17] Lê Văn Khôi lâm bệnh và từ trần vào tháng 12 năm Quí Tị
(1834) nhưng phong trào của Lê Văn Khôi vẫn tiếp tục chiến đấu cho tới khi
thành Phiên An (Gia Định) bị thất thủ vào ngày 16 tháng 7 năm Ất Mùi (1835).
[18] Đoàn Vũ Thanh Hoàng, “Bàn về cố kết cộng đồng của người
Chăm ở Việt Nam”, 2013, Hội thảo khoa học về tôn giáo, Hà Nội, 10/2015
[19]Natalia F. Elieva, “ Morphemes in contemporaty spoken Cham :
qualitative and quantitatives alternations”,Cahier de Linguistique – Asie
Orientale, Vol 20, N. 2. 1991, trang 219-229)
[20]
http://www.champaka.info/index.php?option=com_content&view=article&id=872:dantoc&catid=39:ngonngu&Itemid=54
[21] Trong tiếng Chăm hiện đại, tức Akhar Thra Cam, “saai” dùng để chỉ những người anh/ hoặc chị, còn
‘adey” dùng để chỉ là những người em, những người nhỏ tuổi hơn, vai vế xã hội
thấp hơn.
Bản thân từ “saai” và “adey” không mang ý nghĩa giới tính, muốn
mang ý nghĩa giới tính phải thêm “likei” vào mới gọi là “anh” do “likei” có
nghĩa là con trai (Ja).
Trong quan điểm của tác giả thì nhiều học giả dịch câu này là
“Chăm là anh trai” là chưa chính xác, bản thân là người nói được tiếng Chăm,
tác giả hiểu nghĩa của saai chỉ là “lớn tuổi hơn, vai vế cao hơn, và đáng kính
trọng hơn”, như từ “nin – 您” trong tiếng Hoa mà thôi! Nếu nói “Chăm là anh trai” thì câu ngụ
ngôn đó phải sửa lại là “Cam saai likei” mới đúng!
[22] Bố Thuận là người Chăm đầu tiên nghiên cứu về người H’roi
dưới góc nhìn ngôn ngữ học.
[23] Trong nghiên cứu Ngôn ngữ học, lớp từ cơ bản là ba mẹ, ăn ở,
xin chào, cảm ơn … là yếu tố quan trọng để xác định một “họ ngôn ngữ” thì đối với
tiếng Chăm, Xin Chào (Salam) lại mượn của
Mã Lai, Cảm Ơn (Karun) lại mượn của Arap. Xin mời quý độc giả đọc từ điển Chăm
– Việt – Anh của Sakaya.
[24] Xin đọc lại phần 1, quan điểm Chăm Cau và Chăm Dừa của Phan
Huy Lê, Trần Quốc Vượng.
[25] Dẫn theo Phan Huy Lê, Lịch sử Việt Nam, 2003, NXB Tri Thức.
Mời bạn đọc đọc lại chương hai, phần I “Định danh Chăm” của tác phẩm này
[26] Cách phân chia này được các học giả miền Trung, đặc biệt là
các nhà khoa học ở Đại học Quy Nhơn, Đại học Phú Yên sử dụng, cách phân chia
theo vị trí địa lý sẽ chia người Chăm thành: Chăm Trường Sơn (tức người
Malayonpolyneisn) Chăm Panduranga, và Chăm
An Giang, Theo quan điểm của tác giả, việc chia Chăm Trường Sơn vào một
nhóm khu biệt như thế này sẽ dễ dẫn đến ngộ nhận những tộc người không nói tiếng
Chăm hiện đại, chỉ chung ngữ hệ Malayopolynesisn là người Chăm, có chăng nên
đưa nhóm Chăm Trường Sơn này thành Thần Dân Champa Trường Sơn thì sẽ xác thực
hơn. Trong tác phẩm này, tác giả không nghiên cứu hết tất cả các nhóm dân tộc
thần dân Champa nên tác giả không theo phương pháp phân chia này.
[27] Ban đầu, các nhà khoa học không tách nhóm Chăm Jat thành một
nhóm Chăm riêng, những năm gần đây, Tiên sĩ Trương Văn Món là người tiên phong
chia Chăm Panduranga hiện đại thành 4 nhóm chứ không theo phương pháp cũ là ba
nhóm, nên làm phát sinh thêm nhóm Chăm Jat. Thiệt là nhóm Chăm Jat là nhóm Chăm
Balamon cổ bị ảnh hưởng bới văn hóa bản địa nhiều hơn là Chăm Balamon.
Trong bài viết này cũng xuất hiện nhiều thuật ngữ tương đồng, mà
tác giả không chọn sử dụng một thuật ngữ, tùy bối cảnh hành văn mà chọn thuật
ngữ thích hợp: Chăm Balamon = Chăm Ahier, Chăm Bani = Chăm Awal, Chăm Hồi Giáo
= Chăm Islam, Chăm Rặc = Chăm Jat
[28] Phan Quốc Anh, trong “Sự biến đối tôn giáo Balamon trong cộng
đồng Chăm Ahier ở Ninh Thuận”, 2008. Website Văn hóa học:
Links:
http://www.vanhoahoc.vn/nghien-cuu/van-hoa-viet-nam/van-hoa-cac-dan-toc-thieu-so/454-phan-quoc-anh-su-bien-doi-balamon-giao-trong-cong-dong-nguoi-cham.html
[29] Tống sử, hay Lịch sử chính thống dưới triều nhà Tống ở
Trung Quốc biên soạn có nhắc đến quá trình người Chiêm Thành theo Đạo Hồi. Lưu
ý, Hồi ở đây vẫn còn là Islam chính thống chưa bị bản địa hóa.
[30] http://chanlyislam.net/home/modules.php?name=News&op=viewst&sid=191
[31]Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam, Nhà xuất bản Tôn
Giáo 2007
[32]. Bá Trung Phụ : “Cộng đồng người Chăm Islam giáo ở Việt Nam
với đời sống xã hội”. Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, số 2. 2005. Trang 39-41.
[33] Xem thêm: Nguyễn Văn Huy, tìm hiểu cộng đồng Chăm ở Việt
Nam, phần phụ lục.
Links:
https://nghiencuulichsu.com/2016/08/31/tim-hieu-cong-dong-nguoi-cham-tai-viet-nam/
[34]
http://chanlyislam.net/home/islam-o-viet-nam-islam-in-vietnam-24/
[35]http://chanlyislam.net/home/islam-o-viet-nam-islam-in-vietnam-24/
[36]Bá Trung Phụ : “Cộng đồng người Chăm Islam giáo ở Việt Nam với
đời sống xã hội “. Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, số 2. 2005. Trang 39-41
[37]http://www.chamranam.com/dac-diem-tieng-noi-va-chu-viet-cua-nguoi-cham/
[38]
https://petruspaulusthong.wordpress.com/s%E1%BB%AD-van-ng%E1%BB%8Dc/tim-hi%E1%BB%83u-v%E1%BB%81-l%E1%BB%8Bch-cham/
[39]
http://tagalau.com/lich-cham-va-vai-de-nghi-phuong-phap-thong-nhat-thuan-ngoc-liem/
[40]http://www.champaka.info/index.php?option=com_content&view=article&id=533:kate-l-tc-&catid=54:quan-im-tin-ngng&Itemid=62
[41] Trương Văn Món (Sakaya) – Nguồn gốc và ý nghĩa lễ Ka-tê
(links: https://www.facebook.com/notes/javy-tabeng/l%E1%BB%85-h%E1%BB%99i-kat%C3%A9-c%E1%BB%A7a-ng%C6%B0%E1%BB%9Di-ch%C4%83m-sakaya/157158800971892)
Tác giả: Đoàn Vũ Thanh Hoàng.
Xin vui lòng đánh giá bài viết này:
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét